Sunday, April 21, 2013

Luận Mệnh: Đoán tính cách qua ngày sinh (1)

Phong thủy khai vận Hãy nói cho chúng tôi biết bạn sinh vào ngày nào trong tháng, chúng tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào trong cuộc sống và tình yêu. Bạn nên dùng nhiệm ý, khởi ý (nghĩ đến và làm) để xem xét thì sự mầu nhiệm rất chính xác. Hãy thử 1 lần, không nên làm hai lần trong cùng 1 thời điểm (tác dụng như xin xăm quẻ).

Ngày 1. Bạn rất hiếu kỳ, thích cống hiến, quan tâm đến việc đang làm và ít bị chi phối bởi những thứ khác. Tuy nhiên, bạn sẽ thành công nếu kiên nhẫn hơn. Bạn tin rằng có tình yêu sét đánh và ấn tượng đầu tiên là quan trọng nhất. Bạn luôn muốn giữ hòa khí nhưng tình cảm rất rõ ràng, chỉ có thể yêu hoặc ghét, không có sự mập mờ.

Ngày 2. Có ý thức cộng đồng cao, có khả năng tự chủ nhưng ít khi theo đuổi công việc đến cùng, thường tự khép mình với thế giới xung quanh. Tình yêu tiến triển chậm nhưng yên ổn. Bạn là một người lãng mạn và chung thủy.

Ngày 3. Là ngày của những người lãng mạn nhưng rất linh hoạt, vui tính. Sinh ngày này, bạn là người cẩn thận, kiên trì và rất kín đáo. Trong tình yêu, bạn là người luôn làm cho người yêu ngạc nhiên.

Ngày 4. Với bản thân, đôi lúc bạn tự tạo ra những khoảng thời gian nặng nề, nhưng với người ngoài, bạn dễ gần, thân thiện và vui vẻ. Bạn luôn nghĩ kỹ trước khi hành động nên cuộc sống nhờ thế mà suôn sẻ hơn. Tư duy và sự thể hiện của bạn về tình yêu rất sâu sắc. Bạn luôn mang sự ngạc nhiên đến cho người mình yêu.

Ngày 5. Bạn là người muốn và có thể tự định hướng cuộc sống. Trầm lặng tuy đôi lúc thích nổi loạn. Chịu đựng áp lực của chuyện riêng tư kém, nhưng ít khi chia sẻ. Trong tình yêu, bạn sẽ ghen ra trò nếu có người thứ ba. 

Ngày 6. Rộng lượng, hào phóng, trí tưởng tượng độc đáo. Đôi khi, hay can thiệp vào chuyện của người khác. Mọi người thường ngạc nhiên vì sự cống hiến và lòng can đảm của bạn. Tình yêu của bạn suôn sẻ và êm thấm bởi nó bắt nguồn từ tình bạn. Sự chân thành của bạn sẽ mang hạnh phúc đến cho người bạn yêu.

Ngày 7. Dễ thích nghi với môi trường xung quanh, ghét sự phóng đại. Tính trầm lặng, bướng bỉnh, hơi cố chấp. Sự dũng cảm chính là yếu tố giúp bạn chinh phục đối tượng. Tình yêu của bạn thường diễn tiến nhanh chóng.

Ngày 8. Hòa nhã, thân thiện, hài hước và dí dỏm. Hay làm ảnh hưởng đến người xung quanh vì không hoàn tất công việc cho chu đáo. Tình yêu với bạn là một thói quen nhưng thường không bền. Bạn luôn may mắn trong tình yêu nhưng lại chẳng bao giờ yêu một người.

Ngày 9. Vì không quan tâm xem người khác nghĩ gì nên mọi người cũng khó hiểu bạn. Người khác giới tìm thấy ở bạn sự bí hiểm và sâu sắc. Mối tình đầu của bạn kéo dài cho đến tận sau này. Bạn biết để ý đến cảm giác của người yêu và khá chung thủy.

Ngày 10. Rất có năng lực, dễ trở thành người nổi tiếng. Giỏi thực hiện ý tưởng của mình và luôn chia xẻ với người khác. Là người lịch sự và tao nhã nhưng bạn thường đánh mất tình yêu chỉ vì ghen tuông. 

Ngày 11. Bạn là người tốt bụng, hòa nhã, lịch thiệp và cẩn trọng nên được người khác khâm phục, đôi khi tỏ ra ghen tị. Linh hoạt, có óc thực tế và dễ thích nghi. Bạn sẵn sàng hy sinh bản thân cho người yêu. Tình yêu của bạn thủy chung, nhẹ nhàng.

Ngày 12. Bạn là người thân thiện, hài hước và đầy nghị lực. Hào phóng trong cuộc sống nên bạn không để ý đến những tiểu tiết. Điểm yếu của bạn là tính khí nóng nảy. Thích kiểu tình yêu chinh phục bởi bạn rất tin vào khả năng tán tỉnh của mình. Dễ yêu và cũng dễ bỏ.

Ngày 13. Ghét nịnh bợ, luồn cúi. Sự chân thật khiến bạn dễ gần dù đôi khi bạn quá thẳng thắn. Bạn là người rất đặc biệt trong mắt người yêu và luôn hấp dẫn đối phương bởi sự thành thật, dịu dàng và chu đáo.

Ngày 14. Tự tin, thích cảm giác chiến thắng. Tuy nhiên, bạn là người tử tế, tốt bụng, có trí tưởng tượng độc đáo và thích thực hiện các ý tưởng ngay lập tức. Bạn là người kiên định trong tình yêu và sẽ chỉ theo đuổi đến cùng người mà bạn thích.

Ngày 15. Bạn thích được quan tâm, dễ bị sốc khi mất niềm tin. Nhìn bề ngoài, có vẻ trọng hình thức nhưng thực ra bạn cũng có nhiều tham vọng. Bạn đa cảm nên dễ bị chinh phục, nhưng tình yêu thường không kéo dài. Đây chính là lý do bạn khó có được một mối quan hệ đứng đắn và bền vững.

(còn tiếp)

Lưu ý nhé: Bạn có thể dùng ngày Tây lịch để xem xét, nhưng cũng có thể dùng ngày Âm lịch để xem xét, tác dụng ở đây là nhiệm ý, khởi ý. Có khi đúng tí xíu cũng có khi đúng hết. Hãy thử một lần bạn sẽ biết.

Sưu tầm: Nhà phong thủy

Phong thủy: Cần quan niệm chính tín

[Phong thuỷ khai vận] "Vốn dĩ không khó để học được những khái niệm cơ bản về Phong thuỷ. Nhưng Phong thuỷ lại thường bị người ta phức tạp hoá, một trong những nguyên nhân là rất nhiều thầy Phong thuỷ coi Phong thuỷ là tuyệt học, cố ý khoác lên bức màn thần bí cho Phong thuỷ.

Một nguyên nhân quan trọng khác, là vì Phong thuỷ có sức mạnh rất lớn lao. Phong thuỷ làm thay đổi cấu tạo từ trường của toàn bộ một môi trường, từ đó xoay chuyển nhân quả và đưa nó về trạng thái cân bằng.

Nếu đoán sai Phong thuỷ, có thể gây hoạ đến ba đời; nếu thay đổi nhân quả, thầy Phong thuỷ tất phải chịu hậu quả.


Vì vậy thầy Phong thuỷ cần phải có cả phúc đức và tài năng, không chỉ thuần túy xem Phong thuỷ với mục đích kiếm tiền.

Sở dĩ tôi theo tín ngưỡng tôn giáo, là vì nhờ vào sự bồi dưỡng của tôn giáo mà biết cách tích tụ phúc đức, chuyển hoá nhân quả.

Vì vậy khi thầy Phong thuỷ lựa chọn đệ tử, phải hết sức thận trọng. Trước khi chính thức giảng về Phong thuỷ trước mọi người, tôi luôn luôn giảng giải rõ cho mọi người hiểu về đạo lý này.

Gọi là Phong thuỷ học, thực chất chính là một loại từ trường học và phương vị học, là thông qua phương hướng được chỉ ra bởi Kim từ tính trên la bàn, kết hợp với tính toán toán học, để dự đoán về ảnh hưởng của phương vị đó tới con người.

Phong thuỷ học không phải là một công năng đặc biệt, tuyệt đối không được dựa vào cảm giác hay trực giác để xem Phong thuỷ cho người khác.

Phong thuỷ học không phải là vạn năng, giả dụ ai đó phạm tội giết người, anh ta sẽ phải hứng chịu nhân quả cho hành động giết người đó, bạn không thể chỉ dựa vào một chiếc la bàn để thay đổi quan hệ nhân quả này. 

Vì vậy Phong thuỷ học không thể chi phối quy luật nhân quả, không thể chi phối thế giới. Ví dụ khi bạn bước vào một ngôi nhà, Kim chỉ nam xuất hiện hiện tượng nhảy bất thường, bạn không thể xác định phương hướng, hoặc đầu óc bạn bỗng trở nên hỗn loạn, bạn không muốn xem Phong thuỷ cho ngôi nhà này nữa, chứng tỏ ngôi nhà này đang bị tác động bởi một loại sóng điện từ còn mạnh hơn cả phương vị học, loại sóng này có thể xuất phát từ một nguồn điện nào đó hoặc toàn bộ không gian. Phong thuỷ học dùng "Ngũ Hoàng" để tượng trưng cho sức mạnh này, đồng thời cũng có phương pháp để hoá giải!
......
Phong thuỷ là một môn học dễ nhưng rất khó tinh thông, nhưng hành nghề Phong thuỷ dễ hơn rất nhiều so với tính toán Bát tự, vì việc tính toán Bát tự cho hiệu quả nhanh chóng, bạn tính toán có chuẩn không, đối phương nghe qua sẽ biết liền. Nhưng người ta lại rất khó để đưa ra được những ý kiến bác bỏ bố cục Phong thuỷ của bạn, và khó nhận biết đúng sai, cho nên Phong thuỷ rất dễ được dùng để lừa bịp... nghiên cứu Phong thuỷ dựa trên học thuật, triết lý và chính tín, không được rơi vào mê tín, sùng bái mù quáng.
.......
Tôi cần nhấn mạnh rằng, thầy Phong thuỷ tốt hay xấu, điều này được quyết định bởi thầy Phong thuỷ đó có phúc đức hay không,... Bạn muốn xem Phong thuỷ cho người khác, bạn phải có được cái tâm cứu người như thầy thuốc, dùng tấm lòng lương thiện từ bi để giúp người, như vậy mới có thể trở thành một thầy Phong thuỷ tốt."

Trích lời Đại sư Lý Cư Minh
Phong thuỷ sư huyền không

Saturday, April 20, 2013

Quan điểm Phật giáo về linh hồn và nghiệp báo

[Phong thuỷ khai vận] Phật giáo không chấp nhận có một cái linh hồn trước sau như nhất và càng không chấp nhận cái hồn đó đi đầu thai, như người đời lầm tưởng.

Hỏi: Kính bạch Thầy, con nghe người ta nói, con người sau khi chết có một cái hồn tồn tại và rồi đi đầu thai, chứ không có nghiệp báo gì hết. Họ nói như thế có đúng không? Kính xin Thầy giải đáp cho chúng con được rõ.

Đáp: Vấn đề sau khi chết, linh hồn tồn tại hay không tồn tại và linh hồn người chết sẽ đi về đâu? Đây là một vấn đề rất phức tạp, thật khó chứng minh. Vấn đề này, có nhiều luận giải quan niệm khác nhau, tùy theo quan niệm giải thích của mỗi tôn giáo và tùy theo niềm tin của mỗi người. Tuy nhiên, người Phật tử khi đặt định niềm tin theo một điều gì, chúng ta cần nên phối kiểm tìm hiểu vấn đề bằng lý trí và qua sự sát nghiệm luận cứ kỹ càng, chứ không nên nghe đâu tin đó. Nhất là đối với những người nói bừa không có một luận cứ vững chắc và không có một niềm tin nào cả. Tốt hơn hết là chúng ta nên cẩn trọng khi nghe người khác nói.

Qua câu hỏi trên, nếu phải luận giải cặn kẽ rõ ràng, thì thật là dài dòng. Ở đây, chúng tôi chỉ dựa theo quan điểm của Phật giáo, mà xin được trình bày góp ý qua một vài nhận xét thô thiển của chúng tôi, còn vấn đề tin hay không là tùy ý ở nơi mỗi người.

Bảo rằng, con người sau khi chết còn có một cái hồn tồn tại và rồi đi đầu thai, chứ không có nghiệp báo gì hết, theo Phật giáo, thì quan niệm lý giải đó không thể chấp nhận được. Phật giáo không chấp nhận có một linh hồn bất tử. Vì đó là lối chấp của ngoại đạo. 

Ngày xưa, thời Phật, có 2 phái ngoại đạo nêu ra 2 chủ thuyết: một là "Thường kiến" hai là "Đoạn kiến". Phái Thường kiến cho rằng, linh hồn con người mãi mãi là con người, dù có tạo tội ác đến đâu, chết rồi cũng tái sinh trở lại làm người. Ngược lại, phái Đoạn kiến thì cho rằng, con người sau khi chết là không có linh hồn tồn tại đời sau, nghĩa là mất hẳn. Họ chấp như thế, nên Phật gọi họ là phái Đoạn diệt hay Đoạn kiến. Vì quan niệm và tin như thế, nên họ tha hồ làm ác, vì không có tội lỗi quả báo ở đời sau. Đây là 2 phái gây tác hại lớn làm đại loạn trật tự an bình cho xã hội. 

Hai phái này, theo chủ trương của họ là, không có nhân quả báo ứng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, nhân quả là một chân lý phổ biến, tiềm tàng trong mọi sự vật và chi phối tất cả. Không một loài nào thoát khỏi nhân quả. Do Phật sau khi giác ngộ chân lý, Ngài nói ra cho chúng ta biết như thế.

Vì căn cứ theo luật nhân quả mà nhà Phật nêu ra thuyết nghiệp báo. Hễ chúng ta gây tạo nghiệp nhân gì, sớm hay muộn gì cũng phải có kết quả. Phật giáo không chấp nhận có một linh hồn bất tử như thế. Vì như thế là rơi vào lối chấp thần ngã của ngoại đạo như đã nói ở trên.

Theo Phật giáo, tất cả đều do nhân duyên sinh. Nghiệp báo cũng từ nhân duyên, nhân quả mà hình thành. Theo Duyên khởi luận của Phật giáo, trong đó, có nêu ra thuyết A lại da duyên khởi. Thuyết này thuộc Đại thừa thỉ giáo. A lại da là thức thứ tám sau thức Mạt na. Thức này còn gọi là Tàng thức. Là cái thức trùm chứa tất cả chủng tử thiện ác. Nói Tàng thức, vì thức này có 3 công năng: "năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng". 

Năng tàng là thức này có khả năng hay dung chứa tất cả pháp. Sở tàng là khả năng để đựng chứa chủng tử các pháp. Do 2 công năng này, nên khi chúng ta gây tạo nghiệp thiện ác, thì tất cả những hạt giống thiện ác đó đều được huân chứa vào cái kho Tạng thức này. Đến khi đủ nhân duyên, thì những chủng tử ấy phát khởi hiện hành. Những chủng tử (hạt giống) được cất giữ vào trong kho nầy gọi đó là nghiệp thức. Chính cái nghiệp thức này là chủ động theo duyên mà tiếp nối thọ sinh đời sau. Nhà Phật gọi đây là tiếp nối vòng sinh tử luân hồi trong Lục đạo (Trời, người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh ).

Như vậy, theo thuyết nghiệp cảm duyên khởi và A lại da duyên khởi của Phật giáo, thì mỗi ý nghĩ, lời nói, hành động của 3 nghiệp: thân, miệng, ý tạo tác của chúng ta, đều được cất giữ trong cái kho Tạng thức này hết, không sót mất một hạt giống thiện ác nào. 

Dụ như một thửa đất chúng ta gieo nhiều loại hạt giống khác nhau, khi mới gieo xuống ta không thấy chúng nẩy mầm lên, vì không thấy nên ta tưởng là chúng bị mất hay không lên, nhưng khi gặp mưa ướt đất, đủ duyên, thì chúng lại nẩy mầm lên. Khi nẩy mầm lên, thì giống nào nẩy mầm theo giống nấy. Như hạt cam, hạt ớt, hạt ổi…mỗi thứ lên khác nhau, chúng không bao giờ lộn lạo. Khi chưa đủ duyên, chúng nằm yên đó, chớ không bao giờ mất.

Cũng thế, nếu hiện đời, chúng ta huân tập nhiều hạt giống lành như niệm Phật, làm lành, làm phước… vào Tàng thức, thì chính những hạt giống đó nó có công năng dẫn dắt chúng ta đến cảnh giới lành sinh ra, để tiếp tục hưởng những quả báo tốt đẹp mà do chúng ta đã gây tạo trong hiện đời nầy. Nhà Phật gọi đó là nghiệp dẫn. Ngược lại, nếu chúng ta tạo nghiệp ác thì cũng như thế. Nên nói, tùy nghiệp thọ sanh là vậy. Nên biết, nghiệp là hành động lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen. Chính thói quen này khi thuần thục, thì nó có một sức mạnh phi thường để tùy duyên chiêu cảm thọ sinh.

Như người ghiền cờ bạc, họ đi kiếm nơi nào có sòng bài, thì họ nhào vô chơi. Người ghiền nhạc, thì đi tìm phòng nhạc để ca hát… Khi tập thói quen, dĩ nhiên có thói quen tốt và có thói quen xấu. Thói quen tốt hay thói quen xấu, một khi đã tiêm nhiểm thành ghiền nặng rồi, thì chính thói quen đó nó dẫn dắt chúng ta, tùy theo sở thích mà chiêu cảm, Thói quen hay sở thích nào nặng (cực trọng nghiệp), thì nó có một năng lực rất mạnh để tìm đến môi trường thích hợp mà thọ sinh, nên gọi là nghiệp cảm. 

Về điểm này, trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn cũng có nói: “Như nhân phụ trái, cường giả tiên khiên, tâm tự đa đoan, trọng xứ thiên trụy”. Nghĩa là: Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều mối, nặng đâu sa đó.


Thường ta nghe trong kinh nói, người khi chết, thần thức xuất ra. Nói thần thức, chính là cái nghiệp thức A lại da, nói rõ ra là những chủng tử thiện hoặc ác đã kết thành nghiệp. Và chính nghiệp thức nầy là đầu mối của việc thọ sinh đời sau đó vậy.

Người đời vì không biết, nên cho là có một cái linh hồn đi đầu thai. Chữ đầu thai có nghĩa là có một cái hồn nhảy vào cái bào thai để thọ thai. Hiểu như thế, thì không phù hợp với hai thuyết: Nghiệp cảm và A lại da duyên khởi của Phật giáo như đã nói ở trên. Không phải có một cái linh hồn đi đầu này đầu kia để kiếm đường chui vào một chỗ nào đó. Theo thuyết A lại da duyên khởi, thì không chấp nhận quan niệm đó. Vì trong thức nầy có đủ chủng tử hữu lậu và chủng tử vô lậu. Chủng tử hữu lậu là những hạt giống tùy duyên mà phát sinh ra thiên sai vạn biệt, tức hiện tượng giới; còn chủng tử vô lậu, có thể đưa đến chỗ giải thoát.

Tóm lại, người nào đó nói rằng sau khi con người chết, có một cái hồn tồn tại đi đầu thai và không có nghiệp báo gì hết, thì điều nầy như chúng tôi đã tạm nêu ra đôi nét giải thích trên, thì quan niệm đó không đúng.

Trong quyển Quy Sơn Cảnh Sách giảng giải của Thiền sư Thích Thanh Từ ở trang 77 có đoạn Hòa thượng nói: “Người thế gian cho rằng mọi người đều riêng có một linh hồn là cái tính linh khôn ngoan sáng suốt, mà đã khôn ngoan thì sao lại chịu vào nơi khổ? Ai cũng nghĩ rằng sau khi chết linh hồn mình sẽ sinh ra làm người nữa và chấp chặt cho linh hồn đó là mình.

Đạo Phật thì gọi đó là tâm thức. Cái tâm thức này tùy theo chỗ huân tập thiện ác mà đến, chứ không cố định. Vì không cố định nên nó không phải là cái khôn ngoan biết lựa chọn, mà chỉ tùy nghiệp mà thôi. Tâm thức khác linh hồn ở chỗ đó. Nếu nói chúng ta có linh hồn thì sẽ tưởng như đó là một tinh thần duy nhất, nếu là duy nhất cố định thì thiện ác, mãi mãi không thay đổi. Nhưng tâm thức chúng ta luôn luôn biến chuyển, gần người lành thì hấp thụ điều lành, gần kẻ ác thì hấp thụ điều ác. Như vậy, tâm thức là một dòng thiện ác sinh diệt, chính dòng thiện ác đó sẽ đưa chúng ta đến chỗ lành hay dữ, nghiệp nào nặng sẽ lôi mình trước, đó là ý Tổ Quy Sơn nói “trọng xứ thiên trụy”.

Như vậy, Phật giáo không chấp nhận có một cái linh hồn trước sau như nhất và càng không chấp nhận cái hồn đó đi đầu thai, như người đời lầm tưởng. Còn bảo rằng không có nghiệp báo gì hết, quan niệm nầy, theo Phật giáo cho đó là thuộc hạng người Nhất xiển đề, tức bất tín cụ. Đây là hạng người họ không có lòng tin nhân quả. Chẳng những không tin mà họ còn bài bác nhân quả nữa. Hạng người như thế, thật chúng ta khó trao đổi luận giải với họ được.

Như đã nói, thuyết nghiệp báo là đặt định trên chiều thời gian nhân quả mà nói. Người nói như thế, thiết nghĩ, họ chưa tìm hiểu về thuyết nghiệp báo. Và chưa hiểu nghiệp là gì. Nếu vì chưa hiểu, thì tốt hơn hết là nên tìm hiểu, chớ không nên nói càn bướng mà chuốc lấy khổ lụy vào thân. Thật là một tai hại vô cùng và thật đáng thương xót lắm thay!
Thích Phước Thái - Nguồn: kienthuc

******
Bài đọc thêm


Hai nhà khoa học nổi tiếng khẳng định ý thức của con người có thể tồn tại trong vũ trụ sau khi hệ thần kinh của chúng ta ngừng hoạt động.

Tiến sĩ Stuart Hameroff, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ý thức của Đại học Arizona tại Mỹ, và nhà vật lý người Anh Roger Penrose, vừa đề xuất một giả thuyết mới về ý thức con người. Theo hai ông, linh hồn người nằm trong những ống siêu nhỏ trong tế bào não. Ý thức của chúng ta là kết quả của những tác động do lực lượng tử gây nên trong những ống siêu nhỏ ấy, Physorg đưa tin.

"Có lẽ linh hồn của chúng ta chỉ là sự tương tác giữa những tế bào thần kinh trong não. Vì thế linh hồn là một phần cơ bản của vũ trụ và tồn tại từ khi thời gian bắt đầu", hai nhà khoa học nhận định.
Đạo Phật và đạo Hindu cho rằng ý thức là một phần không thể tách rời của vũ trụ. Các trường phái triết học phương Tây cũng khẳng định điều tương tự.

Hameroff lập luận rằng cảm giác cận kề cái chết xảy ra khi các ống siêu nhỏ mất trạng thái lượng tử.

"Khi tim ngừng đập và máu ngừng chảy, trạng thái lượng tử sẽ không còn tồn tại trong những ống siêu nhỏ. Nhưng thông tin lượng tử bên trong các ống không bị hủy diệt, mà chỉ rời cơ thể để quay trở về vũ trụ. Nếu bệnh nhân được cấp cứu kịp thời, thông tin lượng tử sẽ quay trở lại các ống và bệnh nhân kể rằng họ vừa tới cổng thiên đường. Trong trường hợp bệnh nhân chết, rất có thể thông tin lượng tử sẽ tồn tại mãi mãi trong không gian dưới dạng linh hồn", Hameroff giải thích.

Giới chuyên gia thực nghiệm chỉ trích giả thuyết của Hameroff và Penrose. Hiện nay nó đang trở thành đề tài gây tranh cãi trong cộng đồng khoa học khắp thế giới. Tuy nhiên, Hameroff khẳng định rằng những phát hiện mới trong lĩnh vực vật lý lượng tử sẽ chứng minh tính đúng đắn trong giả thuyết của ông. Mới đây các nhà khoa học đã chứng minh rằng lực lượng tử tham gia vào nhiều quá trình sinh học quan trọng - như quang hợp, thở, định hướng.

Nghi lễ “khai mắt” tượng Phật theo dân gian

[Phong thuỷ khai vận] Khi tạo xong một tượng Phật, trước khi thờ người ta phải làm lễ, niệm Kinh, đọc Chú và điểm vào cặp mắt Phật. Nghi lễ này được gọi là lễ Khai Quang hay còn gọi là Điểm Nhãn hoặc Hô Thần Nhập Tượng.

Đối với người tại gia, nhiều người khi thỉnh tượng Phật từ cửa hàng về nhà, cần tẩy uế và rửa sạch bụi. Bằng cách dùng nước sạch, bỏ ít nước hoa vào; trì chú Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha dùng với ấn Bảo thủ và kiết tường, đồng thời trì thêm chú Cam Lồ Thủy vào nước. Nước rửa khi dùng xong thì đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống.

Khi Khai Quang Điểm Nhãn, vị thầy sẽ chỉ cho hành giả cách hành lễ thờ cúng, giữ giới luật, những điều kiêng kỵ. Sau cùng là làm phép Trấn Thần, nơi bức tượng ấy không cho vong linh hỗn tạp vào.

Sư thầy Thích Ngộ Dũng (TPHCM) cho biết: “Khai có nghĩa là mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu, còn Quang là sáng. Khai Quang là lễ dâng cúng đức Phật. Khai Quang còn có nghĩa là lễ Điểm Nhãn cho tượng. Cũng có một số quan niệm hòa đồng cùng lễ Hô Thần Nhập Tượng.

Khi một tượng Phật được đắp và tô vẽ xong, đem tượng Phật đặt đúng vị trí rồi lựa ngày tổ chức lễ Khai Quang Điểm Nhãn cho tượng Phật. Sau đó mới bắt đầu thờ cúng tượng Phật”.

Đây là nghi lễ không liên quan đến nghi thức Phật giáo mà xuất phát từ Trung Quốc thời xưa. Người ta tin rằng: nếu không làm lễ Khai Quang tức là đưa Thần Lực của Phật an ngự vào tôn tượng thì có những loài ma quỷ sẽ nhập vào đó để hưởng hương khói và sự cúng dường.

Ý nghĩa của việc này là làm tăng linh khí của pho tượng trước khi thờ cúng. Trong khi làm lễ, các vị thầy thường có những bài Chú hay những linh phù (một loại bùa hoá khí nhân tạo - PV) mượn sắc lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đồng thời làm phép Trấn Thần vào tượng mới mua (thỉnh - PV) hoặc được tạo. 

Hòa thượng Pháp chủ Thích Phổ Tuệ cử hành lễ 
hô thần nhập tượng Bồ tát Quán Thế Âm tại chùa Bái Đính (Ninh Bình)

Trên thực tế, có rất nhiều người rất tin tưởng vào vấn đề tâm linh, một bức tượng hay một vật thể. Nếu gọi đúng tên, đúng lúc thì sự linh thiêng sẽ ứng nghiệm. Sự cầu khẩn đó ứng nghiệm không phải là ngẫu nhiên mà các vật thể đó đã được vị Thầy làm cho trở nên linh vật, huyền bí. 

Như vậy, việc khai mở một vật từ vô tri trở nên linh thiêng thì phải có những vị thầy biết được bộ môn Khai Quang Điểm Nhãn. Tức là phải biết mật mã để khai mở.

Đối với Phật giáo Nguyên thủy thì trước đây họ không có nghi thức này. Thậm chí chuyện đúc tượng hay vẽ ảnh cũng là sau này mới có. Cái này tùy theo pháp môn mà có sự khác biệt nên cũng không thể nói đúng sai được.

Trong dân gian cũng tồn tại một tập quán là khi tạo ra những pho tượng. Nhất là những pho tượng đặc biệt thì họ thường cất giấu những thứ đặc biệt tại những chỗ đặc biệt nào đó trong pho tượng.

Việc cất giấu này không chỉ có tính đơn thuần là cất giữ của cải mà nó còn mang ý nghĩa tâm linh. Người xưa quan niệm rằng nhờ những bí mật có tính bùa chú mà pho tượng sẽ trở thành một thực thể linh thiêng với những quyền năng siêu phàm.

Bùi Hiền (tổng hợp) - Nguồn: kienthuc

Phong thủy: Suy nghĩ về Phong thủy Bát trạch và Phong thủy Huyền không

[Phong thuỷ cải vận] Phong thuỷ thực nghiệm cho đăng một bài viết trên internet về suy nghĩ cá nhân Hội ngộ của Hội quán phong thuỷ (tuvisaigon.com) về trường phái phong thuỷ để đọc giả tham khảo, thảo luận và chiêm nghiệm, đây là bài viết khá tốt về nội dung, kiến thức phong thuỷ. Đây không phải chủ kiến của phong thuỷ thực nghiệm, qua bài viết này chúng tôi hy vọng cùng nhau trao đổi học thuật phong thuỷ, phổ biến kiến thức phong thuỷ chuẩn xác đến mọi người theo tôn chỉ của phong thuỷ thực nghiệm, vì thế chúng tôi giữ nguyên văn của bạn Hội ngộ.

+ Phái Phong Thuỷ Bát Trạch dùng mệnh cung phối với hướng để xác định hoạ phúc. Như vậy, đó là sự xác định Thiên Khí phối hợp với Nhân khí để đem lại sự hoà hợp. Đó là nguyên lý Thiên - Nhân tương hợp.- Phái Bát Trạch : Căn cứ vào toạ sơn làm quái gốc, kết hợp với 8 quái còn lại theo du niên tạo thành 8 sao Sinh khí, phúc đức, thiên y, phục vị là tứ cát tinh, ngũ quỷ, tuyệt mệnh, lục sát, hoạ hại là tứ hung tinh. Trong bài trí thích hợp phương cát, kỵ phương hung, tối quan trọng Đông Tây đồng vị , kỵ Đông Tây hỗn loạn. Bát Trạch cũng áp dụng cho mệnh cung của từng người, người Đông tứ mệnh hợp với hướng Đông tứ trạch và tương từ cho Tây tứ mệnh. Tuy nhiên cũng theo quan điểm phải này thì có hàng vạn ngàn người cùng một mệnh Đông tứ trạch thì chỉ ở phương Đông tứ trach hay sao ?


Mặt khác quan niệm căn cứ vào Phong thuỷ Bát Trạch để phân chia cổng cửa phòng ốc là phương pháp tĩnh, không hợp với quan điểm Dịch lý, xem ra có phần thô lậu, giản đơn.

Chỉ có phái Huyền Không Phi Tinh khả dĩ chuẩn xác và phù hợp.

+ Phái Phong thuỷ Huyền Không căn cứ sự luân chuyển của các luồng khí trong vũ trụ mà cụ thể là sự vận hành các Phi Tinh trên địa bàn để xác định hoạ phúc chi phối mọi vật trên trái đất. Đó chính là sự nghiên cứu các quy luật vận động vũ trụ, sự phối hợp giữa Thiên Khí và Địa Khí để xác định hoạ phúc. Đó là nguyên lý Thiên - Địa tương phối. Tuy nhiên phái này xem nhẹ ảnh hưởng của Thiên Địa khí đến yếu tố Nhân tức bản thân con người. Xem ra quyền lực của Thiên - Địa có vai trò tuyệt đối lớn.

- Huyền Không phi tinh quái : Một phái lớn căn cứ vào Hà đồ, Lạc thư đề xuất Cửu tinh là Nhất bạch, Nhị Hắc, Tam Bích, Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử bày bố theo thời gian chiếu vào các cung vị xung quanh huyệt. Ngoài ra còn có phi tinh của sơn hướng toạ huyệt, căn cứ vào phi tinh và vận tinh đó để luận đoán sự phối hợp tốt xấu với hình thế núi non sông nước xung quanh huyệt hình thành hoạ phúc.

Phái chia rất nhiều nhưng người học cần tinh thông về lý khí, về âm dương ngũ hành, huyền không đại quái. Sau đó kết hợp với những luận đoán về phong thuỷ loan đầu mà tổng hợp lại dung hoà giữa tinh hoa các phái. các phái có nhiều nhưng tự trung đều quay quanh một lý thuyết hợp nhất lấy Dịch làm căn bản, cần nhát người học phải lấy tinh bỏ thô, dung hoà được những tinh hoa đúc kết dựa trên kinh nghiệm. Tựu trung lại, Phong Thủy cũng như các môn khoa học huyền bí khác đều có đặc điểm dễ học nhưng rất khó tinh tường, dễ sai lệch, đòi hỏi kinh nghiệm rất tốt mới có thể đem khả năng ra giúp đời, giúp người. Nhiều khi sách vở chỉ là căn bản, cần biết vận dụng phối hợp các lý thuyết, các trường phái chi hiệu quả. Có như vậy mới mong ứng dụng Phong Thủy được tốt đẹp cho cuộc sống.

Khi làm Phong Thủy cho một ngôi nhà có thể lồng Phong Thuỷ Bát trạch và Phong Thuỷ Huyền không để luận ???

Phong Thuỷ Bát Trạch chủ yếu dùng Chu dịch và phép biến quẻ kết hợp với Nạp giáp Nguyệt thể, phân chia 8 cung làm Đông Tây nhị trạch, so với lý Tiên Hậu thiên thì cách nhau xa lắm. Như lấy thời điểm Xuân phân để phân chia Nam Bắc mà không hiểu rằng đó là vòng tuần hoàn của Thái dương, thời điểm Xuân phân Thái dương tại Tuất cung, đây cũng là khởi điểm của cung Hoàng đạo, thế gian vạn vật lấy Thái dương là chủ tể, ngày khởi ở Mão và đêm khởi ở Dậu, con người, động thực vật theo đó mà có sinh khí, có dương quang để hô hấp quang hợp duy trì sự sống, đó là đạo lý sinh tồn hoại diệt bất biến ngàn đời, Bát Trạch khởi tại Xuân phân là sai nặng.

Phong Thuỷ Huyền không Phi tinh có nhiều phái, mỗi phái có sở đắc riêng, nhiều người nghiên cứu Huyền không Phi tinh vài năm và sau đó chuyển sang Lục pháp, Đại quái các thứ đã vội cho rằng Huyền không phi tinh sai lầm vì chỉ lấy Hậu thiên phương vị mà luận, không hiểu gì về Tiên thiên. Đó là những người không hiểu Phi tinh. Thực ra cội nguồn của Huyền không Phi tinh là ở Liên sơn dịch quái(Dịch học gồm 3 bộ: Liên Sơn, Quy Tàng và Chu dịch. Hiện nay mọi người sử dụng chính là Chu dịch, lấy quẻ Càn khởi đầu. Hai bộ kia đã gần như thất truyền, Liên sơn lấy quẻ Cấn khởi đầu, Quy tàng lấy quẻ Khôn khởi đầu). Huyền không phi tinh hoà trộn Tiên Hậu thiên quái lý vào làm một, lấy Bắc đẩu cửu tinh làm chủ, 9 tinh bố 9 cung mà luận.

Liên sơn lấy Cấn. Quy tàng lấy Khôn, và Chu dịch lấy Càn làm khởi đầu chưa đủ lý lẽ để nói đó là ba bộ dịch khác nhau. Người xưa khi còn sống mông muội hoang sơ, dựa nhờ vào hang hốc thì người ta cho rằng Cấn là bao bọc, đến một khi đủ sức thoát khỏi "cái lỗ" kia, họ dùng sức lao động của họ để chủ động được phần nào cuộc sống từ mặt đất bao la, họ tưởng là mặt đất dung dưỡng họ nên họ đặt Khôn làm đầu, tới khi trí tuệ của chính họ đủ sức khai hóa cái đầu óc tăm tối của họ họ mới ngộ ra thái dương hệ trong vũ trụ bao la kia mới định đoạt mọi quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong vủa vạn vật, vì thế mà Càn mới là chủ tể. Cái ngưỡng mà họ ngửng lên nhận biết thiên văn, cúi xuông để am tường địa lý ấy là cài thời điểm tạo ra ranh giới của Tiên thiên và Hậu thiên - tức là lúc họ biết hai quỹ tích vận hành âm dương thuận ngược kia - Thứ làm điên đầu bao nhiêu người muốn tìm hiểu nó. 

Như vậy Bát trạch và Huyền không phi tinh vốn không cùng một gốc, làm sao có thể kết hợp với nhau? Tôi mong những người suy nghĩ việc kết hợp này nên dùng thời gian cho việc khác hữu ích hơn.


Phong Thuỷ Bát Trạch: Xin được lý luận một chút để mọi người tham khảo và cho ý kiến

Khi quan sát nhà ở trong dân gian, các phong thủy sư họ khái quát rồi phân nhà ở theo tám phương là: Phục vị - Sinh khí – Diên niên – Thiên y - Lục sát – hại họa – Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh và đặt ra khẩu quyết: “Bát phương cửu tinh quyết”:
  • Ngôi Chấn: Diên – Sinh - Họa - Tuyệt – Ngũ – Thiên - Lục
  • Ngôi Tốn: Thiên – Ngũ - Lục - Họa – Sinh - Tuyệt - Diên
  • Ngôi Ly: Lục – Ngũ - Tuyệt – Diên - Họa – Sinh - Thiên
  • Ngôi Khôn: Thiên – Diên - Tuyệt – Sinh - Họa – Ngũ - Lục
  • Ngôi Đoài: Sinh - Họa – Diên - Tuyệt - Lục – Ngũ - Thiên
  • Ngôi Càn: Lục – Thiên – Ngũ - Họa - Tuyệt – Diên - Sinh
  • Ngôi Khảm: Ngũ – Thiên – Sinh – Diên - Tuyệt - Họa - Lục
  • Ngôi Cấn: Lục - Tuyệt - Họa – sinh – Diên – Thiên – Ngũ.
Dựa vào khẩu quyết này người ta có hai hệ quả:

** Lấy ngôi Chấn làm ví dụ; Phục vị Chấn: Diên niên ở Tốn do quẻ Chấn biến cả ba hào – Sinh khí ở Ly do chấn biến hào trên – Họa hại ở Khôn do Chấn biến hào dưới – Tuyệt mệnh ở Đoài do Chấn biến hào giữa – Ngũ quỷ ở Càn do Chấn biến hai hào trên – Thiên Y ở Khảm do Chấn biến hai hào dưới – và Lục sát ở Cấn do Chấn biến biễn hào trên và hào dưới. 

** Tương tự người ta mang cung mệnh của một người ghép với phương vị địa bàn cũng được các cụm từ tương ứng trên – Nó chỉ tương tự như một trò chơi chữ mà thôi

Khẩu quyết này sinh ra, họ không căn cứ vào thất tinh bắc đẩu phát khí gây ra vòng tròn bát khí đối với quả đất mà chỉ là sự dịch biến các hào cuả 8 quẻ Dịch. Họ không đề cập tới các nhân tố quyết định gây ảnh hưởng đến sự biến đổi khí trường của quả đất là sự vận hành của toàn bộ vũ trụ, đặc biệt là sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và ngay bản thân trái đất. Mà nếu họ có nói rằng thất tinh bắc đẩu tạo thành bát khí của nhà ở thì cũng chưa thật đầy đủ lý. Sự sắp xếp trạch vị được tiến hành theo thứ tự các ngôi của quẻ tiên thiên, sau khi biến các hào sẽ hình thành quẻ mới sắp xếp theo phương vị của hậu thiên...Ở đây là một quá trình chuyển đổi từ ngôi của tiên thiên sang phương vị hậu thiên, vì tiên thiên bát quái chỉ có ngôi quẻ và thứ tự quẻ chứ không có phương vị, chỉ hậu thiên bát quái mới có phương vị...

Vậy thì với mỗi tư cách của một phù hiệu nó mang dấu ấn một hệ quy nạp. Lẽ đương nhiên khi không cùng hệ quy chiếu sẽ có chỗ không tương đồng, đó là điều người nghiên cứu cần nhìn nhận ra.

Phong Thuỷ Huyền không Đắc thời - Đắc thế:

Một ngôi nhà được gọi là có vượng khí là do hai yếu tố cơ bản quyết định: Thứ nhất là đắc thời và thứ hai là đắc thế (tất nhiên còn một số yếu tố khác chi phối)

* Đắc thời là: Nó được các sao đương quyền (đương vận) đóng ở hướng của hướng và sơn của sơn, nó theo thời vận và độ hướng cụ thể của mỗi căn hộ mà xác định

* Đắc thế là: Tương ứng với các sao ở bát phương căn hộ, theo hướng và thời vận lập trạch mà tự thân nó được xác định. Môi trường xung quanh (loan đầu) có đáp ứng đầy đủ với yêu cầu mà các sao (lý khí) đòi hỏi – Cho tất cả các sao cả cát thẩn và sát thần

Một ngôi nhà được coi là suy khí khi các điều trên kia thích ứng ngược lại. Khi xây dựng nhà cửa, người ta nên căn cứ vào hình thế cuộc đất để xác định tọa hướng có thể xây dựng của căn hộ, sau đó người ta an sao theo hướng của vận đó, dùng tinh bàn để đối chiếu với môi trường có tương thích với nhau không (lý khí + loan đầu). Từ đây các phong thủy sư mới có khả năng đề xuất các giải pháp:
  • Khai thác lợi ích của các Cát thần, xác định khả năng chế áp hoặc hóa giải các Sát thần
  • Kiến tạo kiến trúc, phân bố phòng ốc một các hợp lý
  • Đề xuất cách khai thác sử dụng, cải tạo lâu dài cho căn hộ khi chuyển vận
*** Việc tu tạo nhà cửa được xác định là nhằm thay đổi vận khí cho ngôi nhà, cho nên người ta chỉ tiến hành cải tạo khi biết chắc là hành vi tu sửa là cát lợi. Nếu môi trường (loan đầu) độ hướng và thời vận (lý khí) chỉ ra được điều đó. Đối với các phương vị có các cát thần là sao đương vận + sao sinh khí (sao sinh khí của huyền không phong thủy chứ không phải là sinh khí của bát trạch), người ta tìm cách chiêu dụ dẫn động cát khí vào nhà, đối với các sao là sát thần thì người ta tìm cách chế áp hoặc hóa giải nó. Một ngôi nhà nếu không cho phép người ta sử dụng các biện pháp thực hành ứng dụng của phong thủy để cải tạo thì chủ nhân ngôi nhà đó bị thiệt thòi: Phúc trạch kém. Bất cứ một ai có căn hộ rơi vào tình thế đó thì ta có thể thách đố các phong thủy sư nhưng đừng tự thách đố mình.

Cách sắp xếp sao của Phong Thuỷ Huyền Không

Nhà ở có trước sau, phải trái. Trong phong thủy người ta quan tâm tới phía trước và phía sau nhà nhiều hơn, người ta đã đặt cho nó một thuật ngữ, trước nhà gọi là hướng nhà, và sau nhà (lưng nhà) gọi là tọa. Bất kỳ phái phong thủy học nào cũng đều dùng thuật ngữ Tọa và Hướng. Vậy quả đất hay một vị trí có thể có bao nhiêu tọa và hướng. Người ta hay nói: “bốn phương tám hướng” tức là chỉ bốn phương; Bắc, Nam, Đông, Tây cộng thêm Đông bắc, Tây bắc, Đông nam và Tây nam thành 8 phương. Chia một vòng tròn ra làm bao nhiêu phần đều có thể thực hiện được bởi toán học. Nhưng trong Phong thủy người ta chỉ cần độ tỷ mỷ tới 24 phần cho một vòng tròn.. Tức là từ tám hướng kia người ta chia mỗi hướng làm ba phần nữa, tổng cộng ta có 8 x 3 = 24. Tức ta có 24 tọa hoặc 24 hướng tùy gọi theo công năng sử dụng, và ta có thể gọi chung là 24 sơn hướng. Khi sắp xếp và phối gọi nó trên một vòng tròn, người xưa thực hiện như sau:
  • Phương Đông gồm: Giáp mão Ất – Phương Đông nam gồm: Thìn Tốn Tỵ
  • Phương Nam gồm: Bính Ngọ Đinh – Phương Tây nam gồm: Mùi Khôn Thân
  • Phương Tây gồm Canh Dậu Tân – Phương Tây bắc gồm: Tuất Càn Hợi
  • Phương Bắc gồm: Nhâm Tý Quý – Phương Đông bắc gồm: Sửu Cấn Dần
Nó bao gồm từ việc đem 12 địa chi, 10 thiên can và 4 chiều:
  • 12 địa chi là : Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
  • 10 thiên can là: Giáp Ất Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quý và Mậu Kỷ ở giữa
  • 04 chiều là: Càn Tốn Cấn Khôn
24 sơn hướng ngoài sự biểu thị phương vị ra nó còn bao gồm sự thể hiện: Ngũ hành, Can chi hợp hội hình xung, lý quẻ.

1/ Biểu thị ngũ hành
  • Phương đông thuộc mộc của giáp mão ất. 
  • Phương đông nam thìn tốn tỵ thuộc mộc.
  • Phương nam bính ngọ đinh thuộc hỏa.
  • Phương Tây nam Mùi khôn thân thuộc thổ.
  • Phương tây canh dậu tân thuộc kim.
  • Phương tây bắc tuất tuất càn hợi thuộc kim
  • Phương bắc nhâm tý quý thuộc thủy.
  • Phương đông bắc sửu cấn dần thuộc thổ
2/ Biểu thị các tháng và mùa: Nó được biểu thị theo 12 địa chi
  • Dần tháng giêng bao gồm hai tiết khí: Lập xuân và Vũ thủy
  • Mão tháng hai bao gồm hai tiết khí: Kinh trập và Xuân phân
  • Thìn tháng ba bao gồm hai tiết khí: Thanh minh và Cốc vũ
  • Tỵ tháng tư bao gồm hai tiết khí: Lập hạ và Tiểu mãn
  • Ngọ tháng năm bao gồm hai tiết khí: Hạ chí và Mang chủng
  • Mùi tháng sáu bao gồm hai tiết khí: Tiểu thử và Đại thử
  • Thân tháng bảy bao gồm hai tiết khí: Lập thu và Xử thử
  • Dậu tháng tám bao gồm hai tiết khi: Bạch lộ và Thu phân
  • Tuất tháng chín bao gồm hai tiết khí: Hàn lộ và Sương giáng
  • Hợi tháng mười bao gồm hai tiết khí: Lập đông và Tiểu tuyết
  • Tý tháng mười một bao gồm hai tiết khí: Đại tuyết và Đông chí
  • Sửu tháng 12 bao gồm hai tiết khí: Tiểu hàn và Đại hàn.
3/ Biểu thị cầm tinh và sự xung khắc:

Tý chuột – Sửu trâu – Dần hổ - Mão mèo – Thìn rồng – Tỵ rắn – Ngọ ngựa – Mùi dê – Thân khỉ - Dậu gà – Tuất chó – Hợi lợn
Tý Ngọ – Dần Thân – Mão Dậu - Tuất Hợi vùa xung vừa khắc nhau; Thìn Tuất – Sửu Mùi xung nhau chứ không khăc

4/ Biểu thị âm dương của thiên can và xung khắc
  • Giáp dương mộc, Ất âm mộc. 
  • Bính dương hỏa, đinh âm hỏa. 
  • Mậu dương thổ, kỷ âm thổ.
  • Canh dương kim, Tân âm kim.
  • Nhâm dương thủy, Quý âm thủy.
  • Giáp Canh tương khắc là quan hệ Mộc Kim cùng dương
  • Bính Nhâm tương khắc là quan hệ Hỏa thủy cùng dương
  • Ất Tân tương khắc là quan hệ Mộc Kim cùng âm
  • Đinh Quý tương khắc là quan hệ Hỏa Thủy cùng âm.
5/ Biểu thị tám quẻ
  • Bốn quẻ chính: Khảm Ly Chấn Đoài
  • Quẻ bốn chiều Càn Tốn Cấn Khôn.
6/ Biểu thị âm dương của sơn hướng: Người ta căn cứ vào hợp số tiên thiên để sắp đặt. Số lẻ là dương số chẵn là âm thiên can địa chi. Ở đây nói thêm chút ít về sự bao tàng can trong chi:
  • Tý bao tàng Quý âm nên Tý –
  • Sửu bao tàng Giáp Bính Mậu đều dương nên Sửu +
  • Dần bao tàng Giáp Bính Mậu đều dương, nên Dần +
  • Mão bao tàng Ất âm nên Mão --
  • Thìn bao tàng Mậu Quý Ất; Quý Ất âm, âm nhiều nên Thìn –
  • Tỵ bao tàng Bính Canh Mậu đều dương nên Tỵ +
  • Ngọ bao tàng Đinh Kỷ đều âm nên Ngọ --
  • Mùi bao tàng Kỷ Đinh Ất đều âm nên Mùi –
  • Thân bao tàng Canh Nhâm Mậu đều dương nên Thân +
  • Dậu bao tàng Tân âm nên Dậu –
  • Tuất bao tàng Tân Đinh Mậu, âm nhiều nên Tuất là –
  • Hợi bao tàng Nhâm Giáp Mậu đều dương nên Hợi +
  • Càn 6 hợp với Khảm 1 thành 7 (lẻ) nên Càn +
  • Tốn 4 hợp với Ly 9 thành 13 (lẻ) nên Tốn +
  • Cấn 8 hợp với Chấn 3 thành 11 (lẻ) nên cấn +
  • Khôn 2 hợp với Đoài 7 thành 9 (lẻ) nên Khôn +
Trong 24 sơn hướng, thiên can thiếu Mậu Kỷ - Bát quái thiếu Khảm Ly Chấn Đoài. Mậu Kỷ của thiên can ở trung tâm vòng tròn là thổ, là ngũ hoàng của Hậu thiên bát quái. Cũng có lẽ do nguyên nhân khi sắp xếp Bát quái, thiên can, địa chi vào 24 vị trí, trừ Mậu Kỷ ở trung tâm thì còn 4 ô nằm trên 4 chiều cho nên ngoài Càn Tốn Cấn Khôn người ta không thể sắp xếp được nốt 4 quái vào sơn và hướng, ta hiểu coi như nó đã được ký thác vào Tý Ngọ Mão Dậu.

Tác giả: Hội Ngộ - Nguồn: Hội quán phong thuỷ (tuvisaigon)

Bát tự luận mệnh: Người sinh ngày (Nhật chủ) Giáp mộc

Luy tre langPhong thủy khai vận - Thiên can “GIÁP” tượng trưng cho mộc (+), cây to ở nơi rừng rậm, đồi núi. Thiên can “GIÁP” là CHẤN cũng là CÀN. CÀN là đồng bằng, đô thị lớn. CHẤN là cây to, GIÁP hợp với CÀN là có phúc lớn.

Tính chất người Thiên can "Giáp"

Người có thiên can là "GIÁP" nếu ở đồng bằng không phù hợp thì phải lên núi để sinh sống. Nếu người thiên về CHẤN như sấm, ào ào như vũ bão thường là con trưởng. Để có sấm thì phải có gió chính vì thế người này sẽ phải luôn đứng đầu gió ngọn sóng là hợp mệnh. CHẤN hợp với con trưởng, CÀN hợp với người cha. Con trưởng tính gia trưởng, không đàng hoàng gương mẫu như người cha, người cha học thức hơn hẳn.

Thiên can "GIÁP" nếu là con trưởng sinh sống, lập nghiệp ở khu vực có rừng núi sẽ tốt. Nếu là người cha lập nghiệp ở đất Đế đô là tốt nhưng phải ôn hòa, chậm rãi hiền từ và cần phải giúp đỡ nhiều người. Có nhà ở đàng hoàng trong khu vực, được mọi người biết đến, kính nể. Trẻ nhỏ tuổi GIÁP phải được hướng theo CÀN, từ lời ăn tiếng nói, tính bao dung. Biết trước để chuyển đổi như thế nào? cách chữa là rất quan trọng. 

“GIÁP” là loại cứng, sắt thép, máy bay, cây cổ thụ ….. Tính chất chung của những người có thiên can “GIÁP” là: học giỏi, nổi trội, thi đỗ cao (thủ khoa). Là người có xương đầu to, trán cao bằng và rộng. Khuôn mặt dễ gần, dễ mến, lời nói gần, dễ nghe, dễ hiểu. Sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ những người có khó khăn. Không xăm soi người khác, luôn để lại ấn tượng cho người khác, sống đàng hoàng, đĩnh đạc. Là người có tâm đức, luôn học hỏi, hợp với những người cùng chí hướng. Hợp làm kinh tế trong môi trường quân đội, công an (võ cách). Người có thiên can “GIÁP” thường thích ăn thịt. 

Thiên can “GIÁP” là đầu thiên “CAN” nên thường ẩn mình, không phô trương. Người có thiên can “GIÁP” nên sống kín đáo, cẩn mật, không nói nhiều mới hợp duyên trời định. Người có thiên can “GIÁP” tính tình thường cứng nhắc, đã quyết là làm. Dễ có bệnh về khu vực đầu, gân, gan mật và huyết áp cao. 

Người có thiên can “GIÁP” thường có nhiều đất cát bởi “GIÁP BIẾN VI ĐIỀN” hoặc làm công chức sẽ được phân nhà. Nếu buôn bán về đất sẽ có tài lộc.


Giáp mộc cao lớn tận trời, muốn thoát thai cần có hỏa

Trước tiên hãy tìm hiểu về chữ “Giáp” trong mười thiên can. Chữ Giáp ngũ hành thuộc Mộc, người Giáp Mộc có những đặc điểm nào? Nhìn từ những kinh nghiệm trong quá khứ, người Giáp Mộc dễ thành công hơn so với người Ất Mộc. Người Giáp Mộc cũng dễ tạo dựng được tiếng tăm trong xã hội hơn, dễ được người khác thừa nhận hơn, đây là điểm nổi trội của người Giáp Mộc. Giáp Mộc gặp được Thìn Thổ cũng dễ có được tài sản. 

Giáp Mộc thuộc Dương Mộc, tượng trưng cho cây đại thụ cao lớn tận trời, nên dễ dàng thành công. Đàn ông Giáp Mộc thường tốt hơn phụ nữ Giáp Mộc, đây chính là bí mật tổng kết được qua lịch sử. Giáp Mộc thích hợp với nam giới, nữ giới Giáp Mộc không tốt bằng nữ giới Ất Mộc, đây là hiện tượng phổ biến, tuy nhiên cũng có ngoại lệ, phải xem người này có nhập cách hay không. Nam giới thuộc Giáp Mộc, phần lớn đều là những nhân sĩ chuyên nghiệp hoặc người có thành tựu, thuộc tầng lớp khá cao trong xã hội. 

Bát tự Lionel Messi: 24/06/1987
Giờ
Ngày
Tháng
Năm

Giáp Thìn
Bính Ngọ
Đinh Mão

Mậu Ất Quý
Đinh Kỷ
Ất


Cổ nhân nói: "Giáp Mộc tham thiên, thoát thai kháo Hỏa” (Giáp Mộc cao lớn tận trời, muốn thoát thai cần có Hỏa), vì vậy người Giáp Mộc có một đặc điểm, đó là cần Hỏa, nhưng cần có mức độ, Hỏa không thể quá nhiều vì sẽ dẫn tới thiêu đốt thân mình. Ngoại trừ trường hợp sinh vào mùa hè, Hỏa quá nhiều, còn trong tình huống bình thường, Hỏa sẽ rất quan trọng đối với người Giáp Mộc Thứ hai, Giáp Mộc là cây lớn trong rừng, muốn khiến Giáp Mộc thành tài, cần phải dùng dao, rìu để chặt. Nếu phụ nữ thuộc Giáp Mộc, cuộc đời sẽ không thoát khỏi hai loại vận mệnh, loại thứ nhất là có chồng tốt mới được vận tốt, loại thứ hai cần phải bị chồng khắc mới có vận tốt. Vì căn cứ theo lý luận Bát tự, ngũ hành khắc chế phụ nữ là chồng. 

Người Giáp Mộc phải trải qua khó khăn mới có thể hành vận tốt. Nếu phụ nữ là Giáp Mộc, Mộc khắc Kim, Kim sẽ là chồng của Mộc. Phụ nữ Giáp Mộc cần phải có chồng tốt mới có vận tốt, Giáp Mộc cần phải có Kim để chặt đẽo, tức phụ nữ Giáp Mộc thu khí của chồng mới có thể hành vận tốt. Cũng như vậy, đàn ông Giáp Mộc muốn có vận tốt phải bị chặt đẽo, bị người khác phê bình hoặc chỉ trích. Thứ khắc chế được bạn chính là thị phi, gian khó, giả dụ bạn không may vướng phải kiện tụng, bị trách mắng, dằn vặt, những điều đó sẽ rất tốt cho bạn.

Nhân Tướng Học: Khái Luận Vận Mệnh

Co gai doan trangPhong thủy khai vận - Nhân tướng học là bộ môn nghiên cứu truyền thống của người phương đông. Người xưa đã đúc kết nhiều ngàn đời kinh nghiệp dựa trên phương thức quan sát đặc trưng các bộ phận trên khuôn mặt, từ đó có thể “đọc” được sự nghiệp, tình yêu, tài vận, phúc lộc của con người đó. Tục ngữ có câu: “nhìn mặt mà bắt hình dong”, đó chính là muốn nói về tính cách của một con người “thiện hay ác từ trong tâm tưởng” thông qua tướng mặt của người đó. Có một số người mẫn cảm dựa vào trực giác của mình để phán đoán tướng mặt nhưng không thể dùng toàn bộ trực giác để phân tích và phán đoán sự tốt xấu của tướng mặt được, mà vẫn phải cần tới sự hiểu biết về “Mệnh lý” đúng đắn thì mới có thể phân tích chính xác được.

Có rất nhiều công cụ dùng để phân tích tướng mặt quan trọng, trong đó quan trọng nhất là:

1/ NGŨ QUAN:

“Ngũ quan” theo cách gọi thông thường là chỉ 5 cơ quan trên khuôn mặt con người đó là: Tai, Lông Mày, Mắt, Mũi, Miệng. Nhưng trong nhân tướng học thì những bộ phận này được phân biệt bởi những tên gọi riêng như sau:
  • Tai có tên gọi là “Thái thính”:.
  • Lông Mày có tên gọi là “Bảo thọ”.
  • Mắt có tên gọi là “Giám sát”.
  • Mũi có tên gọi là “Thẩm biện”.
  • Miệng có tên gọi là “Xuất nạp”.
Thông qua “Ngũ quan” ta có thể làm một số phân tích và phán đoán cơ bản tốt xấu về vận thế của một con người. Thông thường:
  • Tai “Thái thính”: có liên quan đến sự trường thọ hay yểu mệnh, sự thăng tiến và quả tu trong đạo.
  • Lông Mày “Bảo thọ”: có liên quan đến sức khỏe và địa vị.
  • Mắt “Giám sát”: có liên quan đến ý chí, trí tuệ và nội tâm.
  • Mũi “Thẩm biện”: có liên quan đến tài phúc và sức khỏe.
  • Miệng “Xuất nạp”: có liên quan tới hạnh phúc, lợi lộc và vận quý nhân.
2/ TAM ĐÌNH:

Trên khuôn mặt “Tam đình” được phân chia thành 3 phần nắm giữ từng giai đoạn vận mệnh của một đời người:

- Thượng đình:
“Thượng đình” có vị trí bắt đầu từ trán đến lông mày. Cai quản vận trình tuổi thiếu niên, nắm giữ vận thế trong khoảng từ 15 tuổi đến 30 tuổi.

- Trung đình:
“Trung đình” có vị trí từ lông mày cho tới điểm chính đầu mũi. Cai quản vận trình tuổi trung niện, nắm giữ vận thế từ 31 tuổi đến 50 tuổi.

- Hạ đình:
“Hạ đình” có vị trí từ dưới mũi cho tới điểm cuối của cằm. Cai quản vận trình tuổi vãn niên, nắm giữ vận thế từ tuổi 51 trở về sau.
Lưu niên vận hạn trên khuôn mặt

Về cơ bản, khi “thượng đình” cao, rộng và thoáng đạt có nghĩa là người đó có địa vị cao trong xã hội. Khi “Trung đình” đầy đặn, có thịt thì xẽ trường thọ, phú quý. Nếu “hạ đình” tròn đầy, ngay ngắn, đầy đặn thì cả đời sẽ có phúc. Ngoài ra, vị trí của Tai (Thái thính) nếu có tướng tốt sẽ còn trợ giúp con người đó trong vận thanh niên và trung niên.

3/ 12 CUNG:

Ngoài “Ngũ quan” và “Tam đình” ra, tướng mặt còn có bộ phận rất quan trọng nữa, đó chính là 12 cung bao gồm:
  • Cung Mệnh: nằm ở vị trí “Ấn dường” giữa hai đầu mày, ảnh hưởng tới vận thế của một con người.
  • Cung Tài bạch (tiền tài): nằm ở giữa vị trí đầu mũi, có liên quan tới sự tốt xấu của tài phú.
  • Cung Huynh đệ (anh em): Lông mày là cung Huynh đệ, có liên quan tới quan hệ anh em.
  • Cung Phu thê (vợ chồng): Nằm ở vị trí đuôi mắt, có liên quan tới sự tốt xấu trong quan hệ vợ chồng.
  • Cung Tử tức (con cái): Nằm ở vị trí phần da dày lên ở dưới mắt. tượng trưng cho có sinh được con hay có con trai nối dõi tông đường hay không.
  • Cung Tật ách (bệnh tật, tai ách): Nằm ở vị trí “Sơn căn”trong khoảng giữ hai mắt, có liên quan đến phương diện sức khỏe.
  • Cung Thiên di (đi xa): Nằm ở cuối 2 lông mày trên trán, có thể xem sự tốt xấu khi xuất hành, đi xa.
  • Cung Nô bộc (bạn bè): Nằm ở cuối má, có quan hệ xấu tốt trong quan hệ bạn bè và thuộc hạ.
  • Cung Quan lộc: Nằm ở vị trí chính giữa trán, có liên quan đến sự tốt xấu của sự nghiệp, chức vụ.
  • Cung Điền trạch (nhà cửa,đất đai): Nằm ở vị trí da trên mắt, khoảng giữa mắt và lông mày. Có liên quan đến sự tốt xấu về gia vận điền trạch của một con người.
  • Cung Phúc Đức: Nằm ở vị trí giũa cuối đuôi mày và Thái dương. Liên quan đến phúc đức tổ tiên và tài vận.
  • Cung Phụ mẫu (cha mẹ): Cung “Phụ” nằm ở vị trí phía bên trái trong khoảng giữa của trán. Cung “Mẫu” nằm ở vị trí phía bên phải trong khoảng giữa của trán. Liên quan tới mối quan hệ tốt xấu trong tình cảm người con với cha và mẹ.

Qua việc phân tích của 12 Cung trên tướng mặt, ta có thể phán đoán với độ chính xác cao người đối diện trong quá khứ, hiện tại và sẽ tiếp diễn hậu vận ra sao!.

Lưu ý: Ngoài sự kết hợp của “Ngũ quan”, “Tam đình” và 12 “Cung mệnh” trên khuôn mặt, để có độ chính xác cao nhất trong nhân tướng học, chúng ta cần phải kết hợp thêm:
  • Sắc tướng.
  • Thần mắt.
  • Cử chỉ.
  • Giọng nói.
  • Sự thay đổi tư thế của: Đầu, Chân, Tay….

CA DAO TỤC NGỮ VỀ KHUÔN MẶT

Dái tai như hột châu thòng
Có thành, có quách, dày, hồng sắc tươi.
Thiệt người phú quý thảnh thơi
Phong lưu tao nhã trên đời chẳng sai.
***
Đàn ông ít tóc an nhàn
Đàn bà ít tóc dở dang duyên tình.
***
Đàn ông miệng rộng thì sang
Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà.
***
Người khôn con mắt dịu hiền
Người dại con mắt láo liên nhìn trời.
***
Đàn ông trán dựng có tài
Đàn bà trán dựng lâu đài soi gương.
***
Gò má mà chẳng cân phân
Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao.
***
Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắt
Ắt lòng tham, hiểm độc gian phi.
Tướng này đức đã suy vi
Nếu không tu thiện, hậu thì khó toan.
***
Má hồng, trán bóng có duyên
Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao.
***
Mặt dài tuy nhỏ: vui chơi
Tai to mặt ngán: chịu lời đắng cay.
***

Miệng mà môi dưới trề ra
Trai thì chung thủy, gái là đào hoa.
***
Miệng rộng, môi mỏng, liếc ngang
Con gái như thế chẳng màng làm chi.

***
Môi dày, miệng rộng cân phân
Nhân trung sâu rộng, tính nhân khoan hòa.
***
Người đen mà ốm lại cao
Tóc quan, môi lớn, lao đao tháng ngày.
***
Những người râu mép ngoảng ra
Mép dày, môi mỏng, ấy là tinh khôn.
***
Những người tai mỏng mà mềm
Là phường xấc láo, lại thêm gian tà.
***
Những người tai ngửa ra sau
Tướng hèn mà lại cứng đầu, chậm nghe.
***
Những người thành thật môi dày
Lại thêm ít nói lòng đầy nghĩa nhân.
***
Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.
***
Đàn ông rộng miệng thì tài
Đàn bà rộng miệng, điếc tai xóm giềng.
***
Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoa
Răng thấp môi kín : thương cha nhớ chồng.
***
Râu rìa, lông ngực đôi bên
Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần.
***
Tóc đen, thưa rộng mà dài
Vuông tròn sắc mặt là trai anh hùng.
***
Tóc thưa, dài mướt, trắng da
Ở hàng lầu các, dung hòa phu nhân.
***
Trai mà có cặp răng nanh
Gan dạ, chịu đựng, khôn lanh đủ điều.
***
Trai mà nói giọng đàn đà
Tính tình nhu nhược, còn là long đong.
***
Trán cao có cái đầu vuông
Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu.
***
Răng đều, khít, kín, tốt, cân phân
Nhỏ, dài, thẳng, chắc, trắng ngần dưới trên,
Tựa như hạt lựu soi đèn
Đủ ba sáu cái nắm quyền tướng khanh.

Popular Posts