Wednesday, June 5, 2013

Thầy phong thủy luận biệt thự tỷ phú Bill Gates

Học phong thủy - Đã từ rất lâu, ngôi biệt thự của vị tỷ phú giàu có nhất thế giới đã trở thành một địa danh nổi tiếng không chỉ ở nước Mỹ mà còn trên khắp thế giới. Nó nổi tiếng không chỉ bởi nó có giá trị lên tới 75 triệu đô la Mỹ và nó thuộc về người giàu nhất thế giới mà còn vì nó được mệnh danh là “ngôi nhà thông minh” đầu tiên trong lịch sử loài người. Là ông chủ hãng phần mềm lớn nhất thế giới, Bill Gates trang hoàng đến từng góc tường trong căn nhà mình bằng những thiết bị điện tử tinh vi và cực kỳ thông minh.

Thiên tình sử

Năm 1994, để chuẩn bị cho đám cưới với cô nhân viên xinh đẹp Melinda French, Bill Gates bắt đầu xây dựng ngôi biệt thự nổi tiếng của mình. Vào thời điểm đó, ông chủ của hãng phần mềm Microsoft đã là một tỷ phú.

Tuy nhiên, chỉ từ năm 1995, nghĩa là từ thời điểm Gates chuyển đến căn biệt thự thông minh của mình bên bờ hồ Washington thì ông mới chính thức trở thành người đứng đầu trong danh sách những tỷ phú giàu nhất thế giới. Chính vì vậy, người ta cho rằng, chính kết cấu phong thủy của ngôi biệt thự đặc biệt này là nguyên nhân giúp ông vua phần mềm phát tài…

Người ta nói rằng, mỗi một vị khách được mời đến ngôi nhà sẽ được phát một chiếc kim găm thông minh ghi lại tất cả những thông tin của vị khách đó từ sở thích cho đến “mùi vị”, rồi chính chiếc kim găm này lại phát ra tín hiệu cho biết vị khách đó đang ở đâu trong khu nhà để nhiệt độ, màu sắc cho tới các dịch vụ ở nơi đó thay đổi theo thị hiếu của khách. Một ngôi nhà như vậy những tưởng chỉ có ở trong các bộ phim khoa học viễn tưởng thế nhưng nó lại hiện diện ở căn nhà của ông vua phần mềm Bill Gates. Tuy nhiên, bí mật về ngôi nhà của tỷ phú giàu nhất thế giới không chỉ có thế.

Ngôi nhà đặc biệt của Gates được khởi công xây dựng từ năm 1994 trước khi Gates kết hôn với Melinda French 6 tháng. 

Vào thời điểm đó, đáp lại lời cầu hôn của ông sếp Bill Gates, cô nhân viên trong công ty Microsoft Melinda đã nói với Gates rằng: “Nếu muốn em dọn đến ở cùng anh thì anh cần phải tạo được một nhà thực sự ấm cúng giống như em tưởng tượng”. Gates đã gật đầu đồng ý và sau 6 tháng bàn bạc, thảo luận, chính Melinda, vợ Gates là người đã thuê kiến trúc sư cải tạo và thiết kế nên ngôi nhà nằm ở bờ hồ Washington nổi tiếng.

Trước khi kết hôn với Melinda, Bill Gates đã là một tỷ phú giàu có. Tuy nhiên, chỉ từ năm 1995, nghĩa là bắt đầu từ khi Bill cùng vợ mình chuyển tới ở tại căn biệt thự này thì ông mới trở thành người giàu nhất thế giới. 

Và cũng bắt đầu từ thời điểm bắt đầu 15 năm liên tục là người đứng đầu trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Bill Gates. Chính vì thế, các nhà phong thủy đều khẳng định rằng, chính ngôi nhà này đăc biệt này đã đem lại tiền tài ông vua phần mềm này.

Ngôi nhà có đúng phong thủy?

Khu biệt thự trị giá 75 triệu đô la của vợ chồng Gates nằm trên khu đất rộng hơn 20 nghìn mét vuông ngay ở bờ phía đông của hồ Washington, thuộc Medina, bang Washington. Với mặt tiền trông ra mặt hồ, khó có thể tìm thấy ở nơi đâu một ngôi biệt thự theo kiểu Thái Bình Dương có hoàn cảnh tự nhiên xung quanh đẹp hơn căn nhà thông minh của Gates.


Toàn bộ khu nhà được chia làm ba khu với kiến trúc bề ngoài không có gì quá đặc biệt. Tuy nhiên, ba khu nhà tạo thành một quần thể liên kết chặt chẽ với nhau để tạo nên sự thoải mái nhất cho chủ nhân của nó. 

Khu thứ nhất được Gates ưu tiền dành cho công việc giải trí, tiêu khiển của khách. Phòng khách có mặt tiền hướng ra hồ Washington. Trong phòng khách có một màn ảnh truyền hình phẳng, rất rộng chiếm suốt cả chiều dài bức tường chính. Đây là nơi vợ chồng Bill đón tiếp những vị khách sang trọng bậc nhất của nước Mỹ và thế giới. 

Chủ tịch Trung Quốc, cựu phó Tổng thống Mỹ, Al Gore, cho tới các nhà ngoại giáo và những thương nhân nổi tiếng đều từng làm khách tại căn biệt thự sang trọng của ông chủ tập đoàn Microsoft. Chính vì thế có lẽ không ngoa khi người ta gọi căn biệt thự của Gates là phần nối dài của Bộ Ngoại giao Mỹ, thậm chí là Nhà trắng.

Không giống như suy nghĩ của nhiều người, khu nhà trung tâm không phải là nơi ở của gia đình Gates mà là nhà thư viện. Ngay cạnh thư viện là chiếc cầu nhảy. Bill Gates rất thích tập nhảy ở đây. Ông cho rằng cũng giống như ngồi trên ghế bành đung đưa, nhảy cầu tạo khả năng tích tụ tư duy. 

Cả nhà Bill Gates sống ở khu thứ 3, khu nhỏ nhất trong căn biệt thự nhưng cũng là khu vực được trang bị những trang thiết bị điện tử tinh vi nhất. Căn nhà chủ yếu được thiết kế từ gỗ tương đối đơn giản song vẫn có đầy đủ sân quần vợt, bể bơi nối liền với nhà tắm kiểu Nhật và một chiếc hồ nhỏ thông với hồ Washinton. 

Các chuyên gia về phong thủy cho rằng, mặc dù được xây dựng theo kiểu biệt thự Thái Bình Dương với lối kiến trúc không quá hoành tráng, song một cách vô tình hay hữu ý, chính lối kiến trúc ấy, từ việc lựa chọn địa điểm, hướng nhà cho tới lối kết cấu của cả khu nhà gắn liền với những thăng trầm của ông vua phần mềm kể từ khi ông chuyển tới sinh sống tại căn nhà này từ năm 1995.

Căn nhà của Bill Gates được xây dựng ở bờ đông của hồ Washington, như vậy, mặt trước của căn nhà, mặt hướng ra mặt hồ Washington chính là hướng chính tây.

Trong phong thủy, hướng tây giáp “đại thủy” (nước lớn) là điềm đại cát, biểu hiện cho đường tiền tài thịnh vượng. Nếu như một trăm tỉ phú thì chắc chắn có tới 80 người phát tài nhờ hướng tây nhà giáp nguồn nước. 

Chưa kể, hồ Washington lại là một con hồ lớn với diện tích lên tới 87,6 kilomet vuông, độ sâu trung bình lên tới 32,9 mét, có nơi sâu tới 65 mét. Một nguồn nước khổng lồ như vậy lại nằm ngay ở hướng chính tây của căn nhà thì đương nhiên việc Gates trở thành tỷ phú giàu nhất thế giới cũng chẳng có gì lạ lạ. 

Ngay những người láng giềng của Gates cũng đều là những bậc danh gia vọng tộc tiếng tăm lẫy lừng trên đất Mỹ. Thế nhưng, đó chưa phải là “nguồn” phát tài duy nhất trong căn biệt thự của Gates. Những người từng có dịp đến tham quan nơi đây, hẳn không ai không trầm trồ vì chiếc bể cá khổng lồ đặt trong nhà của Gates. 

Nghe nói, trong chiếc bể này, Gates còn nuôi cả một con cá voi, loài cá lớn nhất trên thế giới. Mang một bể cá lớn như vậy vào trong nhà, chẳng biết Bill Gates có chú ý tới tác dụng phong thủy không, chứ chắc chắn là nó đã đem lại cho Bill không ít tài lộc.

Khác với những ngôi biệt thự xung quanh, ngoài mặt phía tây quay ra hồ Washinton, thì ở hướng đông, nghĩa là phía sau căn nhà của Gates lại có một dốc núi tương đối cao. 

Phía đông tựa núi cao, phía tây giáp đại thủy, trong phong thủy, đây là một bố cục rất điển hình, gọi là “đông sơn, tây thủy”. Bố cục này rất tốt về đường con cái, tiền tài phát đạt, thịnh vượng dài lâu. Chính bố cục phong thủy này giúp Bill Gates cực kỳ phát về tài vận, vượt hơn hẳn những khu nhà xung quanh. Hơn nữa, bố cục này cũng giải thích vì sao Gates khá mỹ mãn về đường con cái. 


Ông có tới 3 người con, hai con gái và một cậu con út. Trong khi đó, không ít các tỉ phú giàu có nhất nhì thế giới lại không hề có con nối dõi hoặc chỉ có độc một cô con gái. 

Một hướng tốt khác trong bố cục phong thủy của căn biệt thự này chính là hướng tây bắc và đông nam. Hướng tây bắc biểu hiện cho công việc và sự nghiệp. Đây là hướng đặc biệt quan trọng với các nhà chính trị. Rất may mắn, hướng tây bắc của căn biệt thự của Gates cũng hướng ra hồ, nghĩa là giáp đại thủy. Chính vì vậy, không chỉ kiếm bộn tiền, Gates còn là một trong những người được cả thế giới biết tới.

Phong thuy biet thu ty phu Bill Gates

Ảnh hưởng của cái tên Bill Gates thậm chí còn lớn hơn nhiều những nhân vật chủ chốt trong chính quyền Mỹ, có lẽ chỉ trừ Tổng thống. Cũng chính nhờ hướng tây bắc này giáp hồ đã giúp Gates có một mối quan hệ cực tốt với Chính phủ Mỹ, và nhờ vậy, công việc của ông đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ và ưu tiên của chính quyền Mỹ. Chính điều đó là một nguyên nhân không nhỏ giúp Gates có được thành công như ngày nay. 

Cũng như hướng nam, hướng đông nam của nhà Gates cũng dựa vào núi. Hướng đông nam biểu thị cho danh tiếng và sự phát triển của văn hóa. Đây cũng chính là lý do vì sao cả vợ chồng Bill Gates và Melinda đều được cả thế giới nhắc tới như những nhà từ thiện đình đám nhất. Gates đã tuyên bố dành toàn bộ gia 59 triệu đô la của mình cho các mục đích từ thiện. Quỹ từ thiện mang tên hai người cho đến hiện tại vẫn là quỹ từ thiện giàu có nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, bố cục phong thủy của ngôi biệt thự cũng không hoàn toàn đều là tốt. Các nhà phong thủy cho rằng, những hướng xấu trong bố cục phong thủy của căn nhà thực sự đem lại không ít vận hạn cho vị tỷ phú giàu nhất thế giới.

Một trong những hướng xấu trong căn nhà của Gates chính là hướng chính bắc, hướng này hoàn toàn không hề có núi để dựa vào ngược lại lại giáp với hồ. Kết cấu này chắc chắn sẽ đem lại vận hạn cho chủ nhân của nó vào năm tí. Và điều này giải thích vì sao, vào năm 2008, Gates thất bại trong vụ mua lại công ty Yahoo, vụ làm ăn được coi là lớn nhất thế kỷ. 

Và ngay sau vụ làm ăn thất bại đó, Gates đã chính thức xin nghỉ hưu, rời bỏ chức vị chủ tịch tập đoàn Microsoft do chính ông sáng lập nên. Chưa hết, hướng bắc giáp hồ còn biểu hiện cho sự thất thoát tiền bạc. 

Phong thuy biet thu ty phu Bill Gates

Chính vì vậy, cũng vào năm 2008, Gates đã tuyên bố đem toàn bộ tài sản của mình để làm từ thiện. Mặc dù đây là hành động tự nguyện và vì mục đích từ thiện, nhưng xét về bản chất, nó là một hành động làm tiêu tốn tiền bạc của vị tỉ phú. Tuy nhiên, ở độ tuổi của Gates, hành động này của Gates chắc chắn đem lại cho ông nhiều thứ hơn là tiền bạc. 

Các nhà phong thủy cũng cho rằng, một trong những hướng xấu nữa trong bố cục phong thủy căn biệt thự của Gates là hướng đông bắc, cung Cấn quá cao và hướng tây nam, cung Càn lại giáp hồ. Hai hướng xấu này không làm tổn hại đến tiền tài và danh tiếng của ông vua phần mềm, song nó có thể sẽ khiến vị tỷ phú giàu lòng hảo tâm nhất thế giới phải khốn đốn vì chuyện sức khỏe trong những năm sau này. 

Tuy nhiên, điều này sẽ được giảm thiểu đáng kể vì những hướng rất tốt mà bố cục phong thủy của căn nhà có được. Thế mới biết, chẳng có gì là hoàn hảo tuyệt đối, ngay cả với một đầu óc thông minh như ông vua phần mềm Bill Gates.

Phong thuy biet thu ty phu Bill Gates



Hải Phong - phunutoday

Tuesday, June 4, 2013

Phong thủy Việt Nam với thầy địa lý Cụ Tả Ao (1)

Diễn họa cụ Tả AoThầy Phong thủy - Thưa chư vị, chuyện Phong thủy từ xưa đến nay luôn là những câu chuyện đầy bí ẩn. Cổ ngữ vẫn có câu: “Được về mồ về mả, chứ ai được về cả bát cơm”. Lại khi có ai đó dốt nát mà trên vẫn cho được làm quan, dân gian lại bảo: “Mả nhà nó táng hàm rồng”! (VN sao mà lắm hàm rồng thế nhỉ?).

Hầu chuyện chư vị, ai cho là chuyện mê tín dị đoan, thì xin đừng xem nữa. Ai có dạy dỗ gì, tôi cũng không dám nhận, vì tôi không nghiên cứu về Phong thủy. Chỉ mua vui cho mấy chỗ bằng hữu bằng dăm ba câu chuyện mà thôi!

Tả Ao Tiên Sinh

Thầy địa lý Tả Ao là ông Mỗ (không xác định được danh tính). Thuở nhỏ, mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ mắt lòa, ông theo một khách buôn ở phố Phù Thạch (gần rú Thành ở Nghệ An) về Tàu để lấy thuốc chữa bệnh cho thân mẫu. Thầy thuốc khen Tả Ao có hiếu nên hết lòng dạy cho.


Khi nghề đã thành, sắp về nước, chợt có thầy địa lý chính tông đau mắt đã lâu không khỏi, đến mời thày thuốc này đến chữa, do già yếu nên ông thầy sai Tả Ao đi chữa thay. Khi Tả Ao chữa khỏi mù loà, ông thầy địa lý nhìn thấy Tả Ao nghĩ bụng: Người này có thể truyền nghề cho được đây. Tả Ao cũng có ý muốn học, vả lại thấy Tả Ao thông minh, hiếu học, để trả ơn chữa bệnh nên thầy địa lý nọ đã truyền hết nghề, hơn một năm đã giỏi.

Để thử tay nghề của học trò, ông thầy bèn đổ cát thành hình núi sông và vùi một trăm đồng tiền ở các huyệt đạo, rồi bảo Tả Ao tìm thấy huyệt thì xuyên kim xuống. Tả Ao đã cắm được 99 kim đúng lỗ đồng tiền (chính huyệt), chỉ sai có một.

Xong ông thầy nói:
- Nghề của ta đã sang nước Nam mất rồi. Rồi cho Tả Ao cái tróc long và thần chú. Tả Ao về nước Nam chữa khỏi bệnh cho thân mẫu.

Tài liệu phong thủy cổ Tả AoTrước khi từ biệt, ông thầy địa lý bên Tàu dặn: Khi về Nam, nếu qua núi Hồng Lĩnh thì đừng lên. Nhưng một lần đi qua Hồng Lĩnh, không hiểu duyên cớ gì Tả Ao lại lên núi và thấy kiểu đất Cửu long tranh châu (chín rồng tranh ngọc), mừng mà nói rằng: – Huyệt đế vương đây rồi, thầy dặn không lên là vì thế. Bèn đưa mộ cha về táng ở đấy. Ít lâu, vợ Tả Ao sinh hạ được một con trai. Khi ấy, nhà Minh bên Trung Quốc, các thầy thiên văn phát hiện các vì tinh tú đều chầu về nước Nam nên tâu với nhà Vua, ý là nước Nam được đất sẽ sinh ra người tài, sẽ hại cho nhà Minh. Nhà Vua bèn truyền các thầy địa lý là nếu ai đặt đất hoặc dạy cho người Nam thì phải sang tìm mà phá đi, nếu không sẽ bị tru di tam tộc. Ông thầy của Tả Ao biết là chỉ có học trò của mình mới làm được việc này nên cho con trai tìm đường xuống nước Nam mà hỏi:

- Từ khi đại huynh về đã cất được mộ phần gia tiên nào chưa. Tả Ao cũng thực tâm thuật lại việc đặt mộ cha mình. Con thầy địa lý Tàu dùng mẹo cất lấy ngôi mộ, bắt con trai của Tả Ao đem về Tàu. Rồi thân mẫu của Tả Ao mất, Tả Ao tìm được đất Hàm rồng ở ngoài nơi hải đảo để táng. Đến ngày giờ định táng thì trời gió to sóng lớn, không mang ra được.

Lát sau trời yên, biển lặng ở đó nổi lên một bãi bồi, Tả Ao bèn than rằng: Đây là hàm rồng, năm trăm năm rồng mới há miệng một lần trong một khắc. Trời đã không cho thì đúng là số rồi. Rồi Tả Ao chán nản gia cảnh, bỏ quê hương chu du khắp bốn phương để chữa bệnh, tìm đất giúp người.

Khi già yếu, Tả Ao cũng đã chọn cho mình chỗ an táng kiểu đất Nhất khuyển trục quần dương (chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai. Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên. Tả Ao có hai người con trai nhưng do Tả Ao chu du thiên hạ, không màng dang vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái thì bần hàn. Lúc sáu lăm tuổi, biết mình sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, để nằm dưới mộ và sẽ tự phân kim (chôn lúc chưa chết hẳn), dặn con cứ thế mà làm. Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi nên Tả Ao bèn chỉ đại một gò bên đường mà dặn con rằng: Chỗ kia là ngôi Huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế.

Ông xuống cáng, chỉ hướng cho người nhà đào. Hai con bèn táng luôn ở đó. Sau quả nhiên làm Phúc thần.

Tả Ao tiên sinh là người Việt Nam. Một người nổi tiếng như vậy mà không biết thực họ tên là gì. Sách Tang thương ngẫu lục đã phải than rằng: “Chao ôi! Phương thuật của ông kể cũng rất lạ, vậy mà họ tên không truyền lại, tiếc thay! (Có thuyết bảo ông họ Hoàng, tên Chỉ”.

Cái tên Tả Ao không phải là tên thật của nhân vật này, mà là tên làng quê của ông, được ông lấy làm tên hiệu và gắn với tác phẩm của mình. Cũng tương truyền, tên ông được người xưa lấy tên làng, nơi ông sinh ra để gọi, mà không gọi tên thật. Tên thật của ông thì không rõ ràng. Bách khoa toàn thư Việt Nam viết rằng: Tả Ao, trong sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, có tên là Hoàng Chiêm hay Hoàng Chỉ. Còn trong dân gian, xuất phát từ quê hương ông, lưu truyền tên gọi thật là Vũ Đức Huyền. Cũng có nguồn nói rằng ông có tên là Nguyễn Đức Huyền. Tả Ao sinh vào khoảng năm Nhâm Tuất (1442), sống thời Lê sơ (Lê Thánh Tông , Lê Hiến Tông và Lê Uy Mục, tức là khoảng những năm 1442-1509). Có tài liệu cho rằng Tả Ao sinh sống trong khoảng đời vua Lê Hy Tông (1676-1704).

Các sử gia thời Lê Nguyễn đều không chép về ông nên cuộc đời ông chỉ được chép tản mát trong một số truyện, sách địa lý phong thủy thời nhà Nguyễn và sau này. Sách Hán Nôm được cho là do Tả Ao truyền lại gồm: Tả Ao chân truyền di thư (左 幼 真 傳 遺 書), Tả Ao chân truyền tập (左 幼 真 傳 集), Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập-左 幼 真 傳 地 理), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng (左 幼 先 生 祕 傳 家 寶 珍 藏), Tả Ao tiên sinh địa lý (左 幼 先 生 地 理), Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục (左 幼 社 先 師 書 傳 祕 宓各 局). Các tác phẩm này hiện lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên Viện Hán Nôm cũng chú thích rằng:Tả Ao là tên hiệu của Hoàng Chiêm.

Ngoài ra, có các sách Địa lý phong thủy Tả Ao và Địa lý Tả Ao chính tông của tác giả Vương Thị Nhị Mười; Nghiên cứu Phong thủy và Phong thủy Việt Nam của Ngô Nguyên Phi … đều nói sơ lược về Tả Ao.

Các sách vở cũng như truyền thuyết đều coi ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao, là thuỷ tổ khai môn, đệ nhất về địa lý phong thuỷ Việt Nam. Giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc. Người đời xưa còn truyền lại bài thơ ca ngợi ông.

Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao, Tả Ao và Cao Biền thi thố tài năng (như Tả Ao phá trấn yểm của Cao Biền trên núi Tản Viên ở Hà Nội, núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa,…), các truyền thuyết, giai thoại Tả Ao tìm nơi đất tốt để đặt đình chùa, đền miếu, mồ mả, nhà cửa; giúp dân nghèo, trị kẻ gian ác.

Tương truyền làng này có tục nọ, nghề kia là do Tả Ao chọn đất, hướng đình; họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng là do Tả Ao tìm long mạch, huyệt đạo đặt mồ mả. Có một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay tại thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên (nơi có đền thờ Tả Ao): Truyền tích gắn liền với ngôi đền thờ Tả Ao làng Nam Trì còn lưu truyền đến ngày nay là thời kỳ Tả Ao ở khu vực Hưng Yên một thời gian. Tả Ao về huyện Thiên Thi (tên cũ của Ân Thi) đã cắm đất, chọn ngày xây đình chùa, đặt mồ mả để cho hai làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi) và Hới (tức làng Hải Triều, trước thuộc huyện Tiên Lữ, nay thuộc Hưng Yên) phát về đường khoa cử, giàu có nên lưu truyền trong dân gian câu ngạn ngữ Nhất Thi nhì Hới.

Tại Nam Trì, Tả Ao đã giúp dân làng lập lại làng, chuyển đền, chùa và tìm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò Tam Thai vượng về võ tướng. Đến năm Giáp Thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải, người họ Đinh làng Nam Trì là Đinh Tú đỗ Đệ tam giáp Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và được bổ nhiệm làm quan Hiến Sát xứ Hải Dương, được phong tước Phù Nham bá. Hậu duệ của Đinh Tú (lăng mộ tại Nam Trì), chuyển sang sống ở làng Hàm Giang (Hàn Giang) huyện Cẩm Giàng, là Đinh Văn Tả – một danh tướng thời Lê-Trịnh.

Đền thờ

Có rất nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, nhất là giai thoại khi Tả Ao mất, táng ở “ngôi Huyết thực” để được một làng cúng tế. Thực tế, cũng chưa thấy ở đâu (kể cả ở quê hương) có đền thờ Tả Ao và cũng không thấy Tả Ao được phong thần. Hiện nay, có lẽ là duy nhất ở thôn Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên có thờ Tả Ao.

Đền Nam Trì nguyên thờ tam vị Thượng đẳng phúc Thần: Tể tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công), Cao Biền (Cao Vương) và Tả Ao gắn với Lễ hội Nam Trì (hay Lễ hội: Bảo, Lang, Biền). Trong danh sách 7 vị thần thờ ở đền Nam Trì (3 vị trên và 1 vị phu nhân Lữ Gia và 2 vị phu nhân Cao Biền) thì vị thứ 7 là Nguyễn Lang nhưng thực tế ở Nam Trì thì chỉ biết vị thứ 7 là Tả Ao chứ không biết Nguyễn Lang là ai.
.
Theo lịch sử và thần tích thờ tự đền Nam Trì thì khi Tả Ao giúp dân làng lập lại làng, chuyển chùa, đền thờ về phía Tây Nam; nhớ công ơn Tả Ao, dân làng Nam Trì đã tôn Tả Ao là vị Bản cảnh Thành hoàng và thờ cùng tam vị Thượng đẳng phúc Thần từ đó đến nay. Hiện trong đền Nam Trì có câu đối của Tả Ao tả về địa lý, phong thuỷ làng Nam Trì: “Tây lộ khê lưu Kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ Mộc cư tiền” nghĩa là phía tây của đường làng có dòng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc (hướng Tây Bắc hành Kim) – phía đông làng có sông nước tụ, làng nhìn về hướng đông nam (hướng đông nam hành Mộc).
.

(*)Tham khảo từ các sách: Tang thương ngẫu lục, Nam Hải dị nhân, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia và một số tài liệu khác …
Theo Lâm Khang - Nguyễn Xuân Diện tổng hợp.

Thầy phong thủy luận về Marina Bay Sand

Phong thủy nhà - Khi tập đoàn Las Vegas Sands trúng thầu xây dựng khu nghỉ dưỡng tổng hợp MBS Resort năm 2006, các chuyên gia phong thủy đã đưa ra những nhận xét không mấy tốt đẹp. Họ nói ba tòa cao ốc cao 55 tầng trông giống như những bài vị tổ tiên, còn công viên SkyPark thì giống như lưỡi dao, cứa thẳng vào những tòa nhà xung quanh, trong khi bể bơi xây trên nóc tòa nhà sẽ “nhấn chìm” cao ốc.

Las Vegas Sands và kiến trúc sư trưởng Moshe Safdie người Canada khẳng định họ đã nhờ các nhà phong thủy có uy tín tư vấn thiết kế. Đầu tiên là Chong Swan Lek, bậc thầy phong thủy của Singapore. Sau khi ông qua đời năm 2008 vì bệnh ung thư phổi, công việc được chuyển cho học trò của ông, bà Louis Ong Lee, chuyên gia phong thủy người Mỹ gốc Hoa đảm nhiệm.


Kiến trúc sư Safdie cho biết, ông muốn quần thể Marina Bay Sand resort thấm đậm tinh thần cốt lõi của Singapore - thành phố vườn. Đây sẽ là biểu tượng và công trình duy nhất trên thế giới có nét đặc thù này. Khu vườn trên không rộng 1 ha (lớn hơn 2 sân bóng đá) sẽ giúp tăng tối đa diện tích cây xanh, tạo tầm nhìn 360 độ xuống thành phố.

Chuyên gia phong thủy Victor Li, người từng tư vấn xây dựng khách sạn Raffles và khách sạn Grand Hyatt Singapore, nhận xét: “Ba tòa cao ốc trông giống như 3 chiếc bài vị tổ tiên, cùng với công viên trên không, trông chúng giống như một chiếc cầu vượt bị gãy, không đầu không đuôi”. Theo ông, trong tiếng Trung, cụm từ “không đầu không đuôi” có hàm ý xấu, thường chỉ những việc phải bỏ dở dang và không hoàn hảo.

Thầy phong thủy Gwee Kim Woon lại cho rằng, các tòa nhà có dáng dấp của con dơi, và trong tiếng Trung, từ “dơi” đồng âm với từ “phúc”, vì vậy đây được coi là biểu tượng của sự cát tường.

Về phần mình, bậc thầy phong thủy  Chong Swan Lek giải thích rằng, các tòa tháp được thiết kế rộng dần về phía đế, không có gì chung với bài vị tổ tiên. Ông nói: “Nếu quan sát kỹ, chúng giống như ba chiến binh đứng dạng chân. Họ đứng gác cửa ngõ của Singapore. Bài vị thẳng đứng còn những tòa nhà này uốn cong”.

Lưỡi dao sắc nhọn “chém” khu trung tâm tài chính

Một bậc thầy phong thủy khác, ông Tan Khoon Yong, người sáng lập Way Onnet Group, cho rằng khu resort giống như lưỡi dao chém tất cả các tòa nhà xung quanh. Hơn nữa, chiếc mái bằng sẽ hạn chế sự phát triển của khu giải trí.

Thầy phong thủy Chong Swan Lek lý giải rằng, khu công viên trên không được thiết kế giống như chiếc mũ học giả, với hàm ý khu resort sẽ mang đến những kiến thức mới cho Singapore.

Bể bơi trên nóc nhà

Nữ chuyên gia phong thủy Adelina Pang phản đối việc đặt bể bơi trên nóc nhà vì cho rằng điều này khiến người ta nghĩ tới việc tòa nhà bị chìm.

Ông Chong giải thích rằng khu vườn có cây và nước, giống như những trái núi. Nước sẽ giúp ích cho ngành kinh doanh du lịch và tổ chức sự kiện của resort.


Còn nhiều ý kiến trái chiều về phong thủy của Marina Bay Sand

3 ngôi nhà phía trước mặt các cao ốc

Chuyên gia phong thủy bà Louisa Ong-Lee, người tiếp tục công việc của thầy mình trong vòng 2 năm, nhận xét: “Trong khi 3 ngôi nhà ở phía trước của quần thể tượng trưng cho 3 đồng tiền, biểu tượng của sự phú quý thì Bảo tàng Nghệ thuật Khoa học hình bông hoa sen được thiết kế như một bàn tay mở, hành động của trao tặng và chào mừng”. Bông hoa sen trong trắng được bao bọc bởi nước, nước chảy vào trong rồi lại luân hồi, tượng trưng cho tiền vào sòng bạc rồi lại chảy vào Singapore chứ không rơi vào nơi khác.

Theo ông Raymond Lo, một bậc thầy phong thủy tại Hong Kong, việc Resort quay mặt nhìn vào đất liền tượng trưng cho hình ảnh Rồng quay về bái Tổ (thành phố Singapore) và được coi là hết sức may mắn. Cũng vì lý do này, đa số các thầy phong thủy tin rằng Marina Bay Sand sẽ mang lại nhiều điều tốt lành cho quốc đảo.



Ba ngôi nhà nằm phía trước các tòa cao ốc trông giống như 3 đồng tiền. Trong phong thủy, khi một gia đình gặp khó khăn, bạn cho họ 3 đồng tiền để đẩy lùi bất hạnh, mang lại hạnh phúc

Rõ ràng, việc phân tích và đánh giá phong thủy phụ thuộc rất nhiều vào cách nhìn nhận của mỗi người. Thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời đích thực, liệu phong thủy của Marina Bay Sand có tốt thật hay không.






Theo Hùng Sơn

Monday, June 3, 2013

Gia Cát Khổng Minh "điểm huyệt" phong thủy


Thầy phong thủy - Là một người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, Gia Cát Lượng rất chỉn chu với việc chọn nơi chôn cất cho chính mình. Theo di nguyện của Gia Cát Lượng, sau khi chết nơi đặt mộ của mình sẽ là núi Định Quân.

Người đời sau có câu: "Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng, thống nhất sơn hà Lưu Bá Ôn.", đế nói lên tài năng muôn đời của ông.

Có thể nhiều người nghĩ rằng những câu chuyện dưới đây là những điều hoang đường, rằng phong thủy chỉ có ý nghĩa tinh thần là chủ yếu. Nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại, nếu biết vận dụng phong thủy một cách hợp lý thì không chỉ "hiểu thấu" thiên địa mà còn nắm được quy luật tồn vong của vạn vật.

Gia Cát Vũ Hầu "định" phong thủy:

Là một người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, Gia Cát Lượng rất chỉn chu với việc chọn nơi chôn cất cho chính mình. Theo di nguyện của Gia Cát Lượng, sau khi chết nơi đặt mộ của mình sẽ là núi Định Quân. Núi Định Quân nay nằm ở phía nam huyện Miễn, thuộc tỉnh Thiểm Tây. Nó là một nhánh đâm theo hướng Tây Bắc của dãy Hệ Mỹ Thương. Vì trên đỉnh núi rất bằng phẳng, có thể đóng được cả vạn quân nên mới có tên là núi Định Quân.

Một truyền thuyết khác nói rằng, khi Gia Cát Lượng dẫn quân Bắc phạt đã dùng ngọn núi này làm nơi tập Bát trận đồ, luyện tập binh lính nên mới có tên là núi Định Quân. Vì sao Gia Cát Lượng lại chọn núi Định Quân mà không chọn chôn cất ngay tại nơi ông mất hoặc mang hẳn về kinh đô nước Thục? Người ta đã đưa ra nhiều giải thích khác nhau. 

Người nói Gia Cát Lượng chọn núi Định Quân là vì quan niệm khi sống thì quản lý nước Thục, khi chết thì bảo vệ nước Thục. Một thuyết khác lại nói rằng, do việc Bắc phạt thất bại nên Gia Cát Lượng không muốn đưa xác mình về chôn tại kinh đô, sợ bị Lưu Thiền trả thù. Tuy nhiên, có lẽ nguyên nhân thuyết phục nhất vẫn là Gia Cát Lượng đã tính toán rất kỹ về phong thủy khi lựa chọn ngọn núi Định Quân này.

Địa hình núi Định Quân phức tạp, các sườn núi uốn lượn, nhấp nhô được coi là một nơi cực tốt về mặt phong thủy. Tuy nhiên, ngọn núi Định Quân thì quá lớn, vậy nếu như chỉ nói rằng chôn cất ở núi Định Quân thì các tướng lĩnh biết chôn cất Gia Cát Lượng ở đâu? Người ta nói rằng, chuyện này cũng đã được Gia Cát Lượng tính toán rất kỹ. Theo ghi chép, trước khi chết, về việc hậu sự của mình, Gia Cát Lượng nói với các tướng sỹ rằng, sau khi mình chết thì bỏ xác vào quan tài, lấy dây thừng buộc lại rồi cho quân sỹ khiêng theo đoàn quân rút về Hán Trung. Dây thừng đứt ở đâu thì lấy nơi đó làm mộ. 

Quân sỹ theo lời dặn, buộc dây thừng vào quan tài rồi khiêng đi. Cứ khiêng đi như vậy một thời gian rất lâu nhưng dây vẫn không đứt. Tuy nhiên, khi tới núi Định Quân thì đột nhiên sợi dây thừng rất chắc chắn bỗng dưng đứt bật ra, quan tài rơi xuống đất. Quân sỹ vội tìm xẻng để đào huyệt hạ quan tài xuống. Nhưng khi binh lính vừa tản ra thì đất tại nơi đặt quan tại bỗng sụp xuống, vừa khít lấp trọn quan tài của Gia Cát Lượng.

Thời Tam Quốc là thời kỳ "mộ tặc" lộng hành. Vì vậy, ngoài việc chọn phong thủy cho ngôi mộ, việc đầu tiên cần nghiên cứu đối với các nhà phong thủy chính là làm cách nào để chống lại bọn mộ tặc này. Tào Tháo vốn là một chuyên gia trộm mộ, vì vậy cũng trở thành một người tài năng trong việc chống lại mộ tặc. Nghi án về 72 ngôi mộ của Tào Tháo cho tới tận ngày nay vẫn chưa có lời giải và người ta vẫn chưa thể nào tìm thấy ngôi mộ thật của nhà chính trị lừng danh thời Tam Quốc này. 

đền thờ Gia Cát Lượng

Về mặt phong thủy, Gia Cát Lượng có lẽ không thua gì Tào Tháo, vì vậy, việc chống mộ tặc của Gia Cát Lượng cũng đặc sắc không kém. Gia Cát Lượng khi chọn mộ cũng đã nghĩ đến việc sẽ bị Tư Mã Ý hoặc những người đời sau đào và cướp mộ vì vậy đã yêu cầu tướng lĩnh dưới quyền không chôn theo các vật tùy táng, mộ huyệt cũng không cần đào lớn, chỉ vừa đủ để đặt quan tài là được. Khu vực đặt mộ cũng không cần xây kín, cũng không trồng cây đánh dấu hay làm bất cứ thứ gì có thể bị phát hiện.

Tuy nhiên, những người đời sau để tưởng nhớ công đức của Gia Cát Vũ Hầu đã quyết định xây dựng khu mộ cho ông, lại còn trồng cây để ghi nhớ vị trí đặt mộ. Tuy nhiên, khi quyết định làm điều này, họ cũng tính đến việc giúp ngôi mộ chống lại mộ tặc. Vì vậy họ đã xây dựng rất nhiều ngôi mộ giả xung quanh ngôi mộ thật. Ngôi mộ mà ngay nay người ta vẫn gọi là "Mộ thật của Gia Cát Vũ Hầu" thực tế không phải là mộ thật. Nhiều người cho rằng, ngôi mộ chỉ vẻn vẹn dòng chữ "Mộ Vũ Hầu" mới là mộ thật. Vì vậy mà người Trung Quốc đến nay vẫn còn lưu truyền câu tục ngữ: "Mộ thật thì không thật mà mộ giả lại không giả". Ngôi mộ có tên là "Mộ Vũ Hầu" được đặt ở góc Tây Bắc của núi Định Quân, diện tích lên tới hơn 300 mẫu. 

Trên thực tế, nhiều chuyên gia lại cho rằng, ngay cả ngôi mộ có tên "Mộ Vũ Hầu" này cũng không phải là thực. Ngôi mộ này được coi là ngôi mộ thật của Gia Cát Lượng chỉ mới bắt đầu từ năm 1799, do Đô đốc tỉnh Thiểm Tây là Tùng Quân khẳng định dựa trên những truyền thuyết lưu truyền trong dân địa phương thời đó. Vì vậy, có thể nói rằng cũng giống như Tào Tháo, cho tới nay người ta vẫn chưa thể xác định được mộ thật của Gia Cát Lượng nằm ở đâu.

Xem tướng đất, định đế đô

Theo ghi chép của sử sách, nguyên văn câu nói của Gia Cát Lượng là: “Chung Sơn long bàn, Thạch Thành hổ cứ” (Nghĩa là: Núi Chung Sơn có địa thế rồng cuộn, Thạch Thành có địa thế hổ chầu). Xin chớ xem thường câu nói của Gia Cát Lượng là quá ư đơn giản, bởi lẽ chỉ một câu nói ấy đã giúp thành phố Nam Kinh trở thành một trong 3 kinh đô phồn hoa và lâu đời bậc nhất trong thời phong kiến của Trung Quốc… 


Gia Cát Lượng là quân sư số 1 của Hoàng đế nhà Thục Hán- Lưu Bị thời Tam Quốc, một nhân vật truyền kỳ thời cổ đại. Đến thời Minh, cuốn tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa” càng khiến cho Gia Cát Lượng trở nên nổi tiếng, tới mức nhắc tới cái tên Gia Cát Khổng Minh không ai là người không biết. 

Theo “Truyện Gia Cát Lượng” của bộ sử “Tam Quốc chí” thì Gia Cát Lượng tên tự là Khổng Minh, người Lương Nha Dương, nay thuộc Sơn Đông. Từ khi còn nhỏ, Gia Cát Lượng đã mồ côi cha vì vậy, vị thừa tướng nước Thục tương lai lớn lên nhờ sự nuôi dưỡng của người chú là Gia Cát Huyền. Cuối thời nhà Hán, quần hùng nổi lên như ong, tranh giành chém giết lẫn nhau, Gia Cát Huyền khi đó cũng là một nhân vật vào loại “có máu mặt”.

Khi Viên Thuật xưng đế, Gia Cát Huyền được y phong làm chức Thái thú Dự Chương, nay là Nam Xương, Giang Tây. Gia Cát Huyền mang theo Lượng cùng em trai của Lượng là Gia Cát Quân tới Dự Chương nhậm chức. Tuy nhiên, còn chưa tới nơi thì sự tình đã thay đổi, triều đình nhà Hán đã chọn một người khác gọi là Chu Hạo thay thế cho Gia Cát Huyền. Không còn cách nào khác, Gia Cát Huyền đành phải mang hai đứa cháu quay trở lại đến nhờ vả Kinh Châu mục Lưu Biểu, một tông thất nhà Hán, đồng thời cũng là người quen cũ của mình.

Sau khi Gia Cát Huyền qua đời, Lượng quay trở về quê, trồng rau nuôi tằm, sống một cuộc sống của người nông dân. Những lúc nông nhàn rảnh rỗi, Gia Cát Lượng thường ngâm vịnh bài “Lương phụ ngâm”, tự ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, những mưu thần nổi danh thời Chiến Quốc rồi than tiếc vì có tài mà không gặp thời. Những người dân trong vùng không tin một kẻ trồng rau cuốc đất như Gia Cát Lượng lại có tài kinh bang tế thế, cho rằng Lượng là một kẻ ba hoa. Chỉ có Thôi Châu Bình, Từ Thứ và một số bạn bè thân cận biết rằng, Lượng là một “ngọa long”, tài trí không hề tầm thường.

“Quý nhân” trong cuộc đời của Gia Cát Lượng không ai khác chính là Từ Thứ, người từng được Lưu Bị vô cùng coi trọng. Nhờ sự tiến cử của Từ Thứ trước khi lên đường sang Ngụy, Gia Cát Lượng mới được Lưu Bị ngưỡng mộ và quyết tâm mời bằng được. Sau “ba lần tới lều tranh” của Lưu Bị, Gia Cát Lượng mới quyết định “xuống núi” tham gia vào “đời sống chính trị” đầy phức tạp lúc bấy giờ. Sử chép, năm đó, Gia Cát Lượng mới 27 tuổi. 

Gia Cát Lượng không chỉ nổi tiếng như một nhà quân sự, một nhà chính trị mà còn biết đến như một chuyên gia về phong thủy thời cổ đại. Lúc bấy giờ, phong thủy học vẫn chưa được xác lập một cách chính thức, tuy nhiên, việc tìm hiểu và vận dụng phong thủy thì đã tồn tại. Thời Gia Cát Lượng, việc xem phong thủy được gọi là “tướng địa” (xem hình thế đất). Từ “phong thủy” chỉ bắt đầu xuất hiện từ thời Đông Tấn khi một thầy phong thủy là Quách Phác đặt ra để gọi tên thuật “tướng địa”. 

Những nơi được Gia Cát Lượng xem địa thế và coi là nơi “bảo địa” về phong thủy ắt hẳn là rất nhiều nhưng nơi nổi tiếng nhất và có lẽ là thành công nhất chính là vùng đất khi đó có tên gọi Mạt Lăng, tức cố đô Nam Kinh, kinh đô của 10 triều đại sau này. 60 năm trước đây, Nam Kinh vẫn là thủ đô của Trung Quốc, là trung tâm về chính trị và kinh tế của chính quyền Quốc dân đảng. 

Vì sao Gia Cát Lượng lại nghĩ tới chuyện xem phong thủy cho Nam Kinh? Điều này chính sử không có ghi chép hầu hết chỉ xuất hiện trong các truyền thuyết dân gian. Tuy nhiên, cũng vì vậy mà việc Gia Cát Lượng xem phong thủy cho đất Nam Kinh trở thành một câu chuyện đậm chất truyền kỳ. 

Truyền thuyết kể rằng, vào thời Hán Hiến đế trị vì, thiên hạ đại loạn. Sau nhiều năm tranh giành, cuối cùng cũng hình thành 3 thế lực lớn mạnh nhất lúc bấy giờ gồm Tào Tháo ở phía Bắc, Tôn Quyền ở phía Nam và Lưu Bị ở phía Tây. Trong số đó, thế lực của Tào Tháo được coi là có lợi thế hơn cả vì có trong tay Hán Hiến đế và theo danh nghĩa, Tào Tháo vẫn là thừa tướng triều Hán. Đây là lý do khiến người đời gọi Tào Tháo là kẻ “ép thiên tử, hiệu lệnh cho các chư hầu”. 

Trước khi Tào đem quân xuống phía Nam, do thế lực còn yếu, quân Thục của Lưu Bị quyết định sẽ liên minh với Ngô chống lại Tào Tháo. Với tư cách là quân sư của quân Thục, Gia Cát Lượng được Lưu Bị phái sang Đông Ngô để thuyết phục Tôn Quyền liên minh với quân Thục. Gia Cát Lượng theo đường thủy tới Nam Kinh, sau khi lên bờ thì đi đường bộ qua núi Thanh Lương nằm ở phía Tây thành Nam Kinh cảm thấy ngỡ ngàng với cảnh tượng trước mắt. 

Dừng ngựa quan sát, Gia Cát Lượng phát hiện ra rằng khí thế của thành Nam Kinh hoàn toàn không tầm thường, hiện rõ khí thế đế vương. Tức cảnh sinh tình, ngồi trên lưng ngựa, Gia Cát Lượng cảm khái nói rằng: “Chung sơn long bàn, Thạch Thành hổ cứ, chân đế vương chi trạch” (Nghĩa là: Núi Chung Sơn có địa thế rồng cuộn, Thạch Thành có địa thế hổ chầu, thực là nơi ở của bậc đế vương). 

Câu nói này của Gia Cát Lượng dù không thấy được ghi chép trong cuốn sử “Tam Quốc chí” của tác giả Trần Thọ, song lại được rất nhiều sử sách khác ghi chép. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là, câu nói của Gia Cát Lượng đã tạo nên một ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của thành Nam Kinh sau này.

Nói cách khác, Nam Kinh sở dĩ trở thành đất đế đô của 10 triều đại phong kiến thời cổ đại rồi trở thành thủ đô đầu tiên của Trung Quốc thời hiện đại tất cả là nhờ công của Gia Cát Lượng. Bởi lẽ nếu như không có câu nói này của Gia Cát Lượng thì kinh đô của Đông Ngô, vương triều đầu tiên định đô ở Nam Kinh có lẽ sẽ được đặt ở Vũ Xương và cảnh tượng “đế đô” phồn hoa đô hội của Nam Kinh có lẽ sẽ phải chậm trễ tới vài thế kỷ.

Tại sao Gia Cát Lượng lại rút ra kết luận Nam Kinh “nơi ở của bậc đế vương”? Theo các chuyên gia về phong thủy thì phần phong thủy mà Gia Cát Lượng nhìn thấy ở Nam Kinh nằm ở 4 chữ đầu tiên: “Chung Sơn long bàn, Thành Thành hổ cứ”. 

Nếu chiếu theo địa thế của Nam Kinh thời bấy giờ thì phía Đông của Nam Kinh là dãy Chung Sơn uốn lượn, hình dáng giống như một con rồng đang bay lượn còn ở phía Tây là thành Thạch Đầu (tức là núi Thanh Lương, nơi Gia Cát Lượng đi qua) được xây dựng ngay cạnh sông, hình dáng giống như một con mãnh hổ. Từ việc xem địa thế này mà Gia Cát Lượng rút ra kết luận: “Đây thực sự mảnh đất tốt để các bậc đế vương xây dựng sự nghiệp của mình”. 

Sau này, Tôn Quyền tin theo lời của Gia Cát Lượng, lại thêm sự kích động của Lưu Bị, Tôn Quyền đã quyết định dời kinh đô của Đông Ngô từ Vũ Xương tới Mạt Lăng, đổi tên nơi này thành Kiến Nghiệp, với ý là chọn nơi này làm nơi xây dựng bá nghiệp của mình. Mạt Lăng hay Kiến Nghiệp sau này chính là thành Nam Kinh ngày nay. 

Vì sao Lưu Bị cũng nói về chuyện phong thủy của Nam Kinh? Có phải là Lưu Bị nói theo Gia Cát Lượng? Tìm kiếm trong sử sách, người ta lại phát hiện ra rằng, hóa ra Lưu Bị cũng từng xem phong thủy cho Nam Kinh. 

Theo sách “Kiến Khang thực lục” thì vào những năm Kiến An, có lần Lưu Bị đi thuyền tới Kinh Khẩu, nay là Trấn Giang trên đường đi qua Nam Kinh đã lên bờ, đồng thời nghỉ đêm tại đây. Lưu Bị cảm thấy Nam Kinh là nơi đất tốt, là nơi có thể xây dựng sự nghiệp vì vậy sau này mới khuyên Tôn Quyền dời đô tới nơi đây. 

Theo các chuyên gia phong thủy, địa thế phong thủy của Nam Kinh tốt hơn hẳn so với các cố đô của Trung Quốc như Tây An, Lạc Dương. Duy nhất chỉ có Bắc Kinh có thể đem ra so sánh với Nam Kinh về phong thủy. Sách “Nhật hạ cự văn khảo” được biên soạn theo chỉ dụ của Càn Long dẫn lời sách “Dương Văn Mẫn tập” thời Minh viết: “Hình thế núi sông trong thiên hạ hùng tráng đẹp đẽ có thể trở thành đất kinh đô thì không nơi nào có thể bằng được Kim Lăng”. Đây có lẽ cũng là lý do mà Chu Nguyên Chương sau khi khởi nghĩa đánh bại nhà Nguyên đã quyết định chọn Nam Kinh làm kinh đô. 

Sử sách chép, năm Hồng Vũ thứ 2, tức năm 1369, Chu Nguyên Chương và quần thần họp bàn về việc lựa chọn nơi đặt kinh đô. Mặc dù từ đầu, Chu Nguyên Chương đã có ý dời đô, lựa chọn Bắc Kinh hoặc Quan Trung. Tuy nhiên, sau khi thảo luận, cuối cùng, Chu Nguyên Chương vẫn cho rằng phong thủy của Nam Kinh là tốt nhất. Theo sách “Minh Thái Tổ thực lục”, Chu Nguyên Chương đã nói: “Nay đất Kiến Nghiệp có sông Trường Giang hiểm trở, địa thế rồng cuộn hổ chầu, là nơi đất tốt của Giang Nam, đủ để là nơi lập nước…”. 

Hay “quỷ kế” phong thủy của Gia Cát Khổng Minh? 

Mặc dù là “nơi ở của bậc đế vương”, tuy nhiên, phong thủy của Nam Kinh cũng không thể đảm bảo rằng, vận mệnh của một vương triều có thể kéo dài mãi mãi. Ngược lại, có rất nhiều vương triều chọn Nam Kinh làm kinh đô đều rơi vào kết cục “đoản mệnh”. 


Sau khi Tôn Quyền chọn Nam Kinh làm kinh đô của Đông Ngô chỉ tồn tại được 59 năm, từ năm 229 tới năm 280 thì bị nhà Tây Tấn tiêu diệt. Điều kỳ lạ chính là, sau Đông Ngô, các triều đại tiếp theo lựa chọn Nam Kinh làm kinh đô cũng đều rơi vào cảnh “đoản mệnh” như vậy. Ngoại trừ nhà Minh nhờ vào việc dời đô tới Bắc Kinh nên tồn tại được 277 năm, còn lại 8 vương triều khác, nhiều nhất như Đông Tấn chỉ tồn tại 104 năm, có vương triều như Thái Bình Thiên Quốc chỉ tồn tại vỏn vẹn 12 năm. 

10 vương triều chọn Nam Kinh làm kinh đô thì có tới 9 vương triều “đoản mệnh”, một vương triều phải dời đô mới có thể kéo dài thời gian thống trị của mình. Điều này khiến người ta cảm thấy nghi ngờ về địa thế phong thủy được gọi là “nơi ở của bậc đế vương” của Nam Kinh. Chính vì thế, sau này tới thời Trung Hoa dân quốc khi quyết định chọn Nam Kinh làm thủ đô cũng đã gây ra nhiều tranh cãi trong bộ phận lãnh đạo chính quyền lúc bấy giờ. 

Vì vậy, ngày 14/12/1912, Tham nghị viện lâm thời của Trung Hoa dân quốc đã tổ chức một buổi họp để quyết định việc chọn lựa thủ đô. Sau rất nhiều tranh cãi mà vẫn không ai chịu ai, cuối cùng, người ta quyết định dùng hình thức bỏ phiếu để quyết định lựa chọn nơi nào làm thủ đô. Kết quả bỏ phiếu khiến Tôn Trung Sơn, người đã nhắm đất Nam Kinh từ trước vô cùng bất ngờ: Có tới 20 phiếu bỏ cho Bắc Kinh, trong khi đó Nam Kinh chỉ được 5 trên tổng cộng 28 phiếu bầu.

Vì đã có ý định chọn Nam Kinh làm thủ đô nên kết quả này khiến Tôn Trung Sơn tức giận. Với tư cách là Tổng thống lâm thời của chính phủ Trung Hoa dân quốc, Tôn Trung Sơn quyết định ngày hôm sau sẽ tiến hành bỏ phiếu lại, nhất định muốn lựa chọn Nam Kinh. Hoàng Hưng phối hợp với Tôn Trung Sơn uy hiếp các thành viên của Tham nghị viện nói: “Nếu như ngày mai không thực hiện theo ý của tiên sinh (Tôn Trung Sơn), tôi lập tức phái quân bắt các nghị viên nhốt lại”. 

Dưới sự uy hiếp, 27 người tham gia cuộc họp ngày hôm sau đã thay đổi hoàn toàn thái độ. Kết quả bỏ phiếu ngày hôm sau khác hẳn, Nam Kinh được 19/27 phiếu, trong khi đó, Bắc Kinh chỉ còn lại 6 phiếu. Từ kết quả này, việc Nam Kinh được lựa chọn làm thủ đô của Trung Hoa dân quốc chính thức được thông qua. 

Vì sao việc “định đô” của Trung Hoa dân quốc lại gặp nhiều trở ngại như vậy. Có người cho rằng, việc cho rằng Nam Kinh là đất “đế đô”, trước nay chỉ dựa vào một câu nói của Gia Cát Lượng mà không có ai kiểm chứng. Vì vậy, người đời sau kể từ Tôn Quyền cho tới chính phủ Trung Hoa dân quốc đều trúng “quỷ kế” phong thủy của Gia Cát Lượng. 

Nhiều người cho rằng, Nam Kinh quả thực là đất có “vương khí”. Từ thời Tần Thủy Hoàng, “vương khí” này đã xuất hiện. Tuy nhiên, do địa thế phong thủy của Nam Kinh thiếu “Huyền Vũ ở phía sau”, lại thêm nằm quá gần dòng Trường Giang, hình thành thế “phía trước có gương”- đại kỵ trong phong thủy. 

Nước sông chảy quá nhanh khiến phong thủy liên tục xoay vòng, vương khí lộ ra quá nhanh khiến cho việc thay đổi các vương triều cũng diễn ra nhanh. Đây chính là lý do khiến các vương triều chọn Nam Kinh làm kinh đô đều gặp phải kết cục “đoản mệnh” chứ không thể xây dựng được một sự nghiệp lâu dài. Đây là khuyết điểm lớn nhất trong địa thế phong thủy của Nam Kinh, đồng thời cũng là một khuyết điểm “chết người”. 

Gia Cát Lượng vì muốn chuẩn bị cho sự thống nhất thiên hạ, khôi phục nhà Hán của Lưu Bị nên đã soạn ra âm mưu phong thủy thâm độc này để hãm hại Tôn Quyền. Đầu tiên hãy cứ lừa cho Tôn Quyền dời đô về Nam Kinh, vì dù nơi đây quả thực có vương khí song lại không bền lại từng bị Tần Thủy Hoàng “trấn khí” nên một khi Đông Ngô dời đô về Nam Kinh thì quân Thục sẽ chỉ còn một đối thủ duy nhất phải đối đầu chính là Tào Tháo mà thôi. 

Cách lý giải nói trên nghe có vẻ rất hợp lý. Tuy nhiên, thực tế, nó chỉ là cách gán ghép của những người giàu trí tưởng tượng mà thôi. 

Các dãy núi tượng trưng cho rồng, nên thường gọi là “long mạch”, nơi long mạch cao lên người ta gọi là “long não”, nơi dãy núi bắt đầu gọi là “khởi long”, nơi mạch núi kết thúc gọi là “chú long” hoặc “long vĩ”,… Một nơi được gọi là “bảo địa” trong phong thủy thì phía sau lưng phải có long mạch đang tới, tức là phía sau lưng của nó phải có một dãy núi lớn hướng về, gần thì gọi là “tông sơn”, xa thì gọi là “tổ sơn” hay còn gọi là “tổ long”. 

Theo cách lý giải này thì việc cho rằng địa thế của Nam Kinh là “phía trước có gương”, phía sau không có núi là hoàn toàn không đúng. Bởi lẽ ở bờ phía Nam của Trường Giang có rất nhiều núi, vì vậy không thể nói là không có núi được. Chỉ có điều, các dãy núi này phần lớn đều là núi nhỏ. Nếu như nói địa thế phong thủy của Nam Kinh có khuyết điểm thì hình thế của các ngọn núi này mới chính là khuyết điểm. 

Ngoài ra, ngay cả khi Nam Kinh không có “tổ long” thì vẫn có “thủy long” lớn bậc nhất Trung Quốc chính là dòng Trường Giang. Con “thủy long” này xuất phát từ phía Tây, chảy cuồn cuộn về phía Đông khí thế vô cùng hùng vĩ, có thể 10 ngọn núi lớn cũng không thể bằng, người cổ đại gọi nó là “lạch trời”. Vì vậy, không thể nói Trường Giang chính là khuyết điểm trong địa thế phong thủy của Nam Kinh được, ngược lại nó chính là lợi thế khiến Nam Kinh trở thành mảnh đất đế đô khác hẳn với những kinh đô khác ở Trung Quốc thời cổ đại. 

Cũng có nhiều người lại cho rằng, việc các vương triều chọn Nam Kinh làm kinh đô đều “đoản mệnh” là vì ở Nam Kinh, khí âm quá mạnh, mà dương khí thì quá yếu. Thực tế, đây cũng là cách lý giải không đáng tin cậy. 

Từ góc độ phong thủy thì mộ phần và nước tượng trưng cho khí âm còn nhà ở và núi thì thuộc về dương. Các phía Bắc, Đông, Nam của Nam Kinh đều bị các mộ phần bao quanh, mới nhìn, tuy có vẻ như là âm khí quá mạnh. Tuy nhiên, “long đầu” là ngọn Chung Sơn, tòa vương phủ cũng như các tòa nhà tráng lệ trong thành Nam Kinh cũng khiến khí dương mạnh không hề kém. 

Vì vậy, không thể nói là địa thế phong thủy của Nam Kinh bị mất cân bằng giữa phần khí âm và khí dương được. Hơn nữa, ngay cả Bắc Kinh, Tây An nơi nào cũng bị các phần mộ bao vây xung quanh. Do vậy, không thể lấy điểm này để lý giải cho khuyết điểm phong thủy của Nam Kinh. 

Người ta thường nói, nhà ở thì gần nước, phần mộ thì gần núi, Nam Kinh gần sát sông Trường Giang, chính là nơi thích hợp nhất để con người sinh sống. Tổng kết lại, hầu hết các thành phố lớn trên thế giới đều nằm cạnh sông. Vì vậy, việc Gia Cát Lượng cho rằng Nam Kinh là “nơi ở của bậc đế vương” là chính xác. 

Còn như việc sự tồn vong của một vương triều là do kết quả tất yếu của sự vận động của các điều kiện lịch sử chứ không liên quan gì tới địa thế phong thủy. Điều này có thể lấy ra rất nhiều ví dụ để minh chứng.

Theo sách “Tư trị thông giám”, Lương Nguyên Đế Tiêu Trạch xưng đế ở Giang Lăng, nay là Hồ Bắc, sau khi bình định Vũ Lăng Vương Tiêu Kỷ quyết định dời đô về Kiến Nghiệp, tức Nam Kinh vào năm 553.

Tuy nhiên, các đại thần phản đối, nói rằng, Nam Kinh “vương khí” đã tận, không thể chọn làm nơi định đô được. Tiêu Trạch đã nghe theo ý kiến này. Tuy nhiên, ngai vàng của Tiêu Trạch cuối cùng cũng không ngồi được lâu. Chỉ chưa đầy một năm sau đó, Tây Ngụy phát binh tấn công nhà Lương, tháng 11 năm đó chiếm thành Giang Lăng. Tiêu Trạch buộc phải đầu hàng, ít lâu sau đó thì tự sát. 

Một ví dụ khác chính là “vương triều” gần chúng ta nhất đã chọn Nam Kinh làm kinh đô: Chính quyền Trung Hoa dân quốc của Quốc dân đảng. Tưởng Giới Thạch cho rằng phong thủy của Nam Kinh rất tốt, có “lạch trời” là Trường Giang nên quyết định “dời đô” về Nam Kinh những mong sử dụng uy thế của “lạch trời” để ngăn cản bước tiến của quân Cộng sản Trung Quốc. 

Lúc bấy giờ, bất luận là từ phương diện nào, quân của Quốc dân đảng cũng mạnh hơn quân của đảng Cộng sản. Thế nhưng, sau đó, quân Cộng sản Trung Quốc vẫn dễ dàng vượt Trường Giang tấn công rồi hạ thành Nam Kinh. Số phận của chính phủ Quốc dân đảng “đoản mệnh” như vậy là do địa thế phong thủy của Nam Kinh không tốt? Có thể khẳng định chắc chắn là không. Nguyên nhân chính trong sự thất bại của quân Quốc dân đảng ở Trung Quốc đại lục chính là sỹ khí và lòng người. 

Trên thực tế, những gì đã diễn ra trong lịch sử cho thấy, quyết định vận mệnh của một vương triều chính là bản thân vương triều ấy. Giống như câu nói của Lương Tiêu Đế Tiêu Trạch đã sớm nhận ra trước khi thất bại và buộc phải tự sát rằng: “Lành dữ là do mình, vận số là do trời, trốn tránh cũng đâu có ích gì?”.

Theo Dũng Đông - Hải Phong

Phong thủy "vùng đất đế vương" nổi tiếng Việt Nam

Thanh HóaNhà phong thủy - Theo các nhà nghiên cứu địa lý - phong thủy, thì Thanh Hóa là đất "Đế vương chung hội", còn Cao Bằng là nơi các bậc đế vương ẩn náu...

Vùng đất của hai vua

Đất Thanh Hóa đã sinh cho đất nước hai vị hoàng đế anh hùng: Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đánh thắng quân xâm lược Tống vào cuối thế kỷ 10 và Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đánh thắng quân Minh đầu thế kỷ 15. Ở đây, chúng tôi đề cập đến một địa danh đã đi vào lịch sử là Lam Sơn, thuộc huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), là nơi các nhà sử học, phong thủy học, thường nhắc đến với những chiêm nghiệm về địa lý, về nguyên khí hun đúc nên vùng địa linh nhân kiệt này, để lại những ghi chép đáng để chúng ta ngày nay suy ngẫm.


Chẳng hạn, sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, ông tổ ba đời của vua Lê Lợi tên húy là Hối, một hôm đi dạo chơi đến vùng núi Lam Sơn chợt thấy có đàn chim đông đúc đang bay lượn như thể núi Lam Sơn có một lực thu hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim về tổ, bèn nói: “đây hẳn là chỗ đất tốt” và quyết định “dời nhà đến ở đấy”. Ghi chép trên của Ngô Sĩ Liên tuy khá vắn tắt, song cũng đã thông tin về một trong các yếu tố liên quan đến phong thủy của vùng đất phát vương. Tức vùng đất không thuộc “sơn cùng thủy tận”, cũng không phải nơi “tuyệt địa” vắng vẻ. Mà là nơi “chim tụ hội thành đàn” đông vui, ríu rít, là đất “tụ khí tàng phong” khác hẳn với những miền hung địa. Hung địa theo thuật ngữ phong thủy là đất chu tước bi khốc (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất bạch hổ hàm thi (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc xương long vô túc (rồng không có chân, rồng bị tật nguyền)… Như thế, Lam Sơn là đất cát tường, đất tụ nghĩa, đất xưng vương, mà người đứng lên đảm đương việc mở đầu nghiệp đế của nhà Lê là Lê Lợi.

Thật vậy, khi tổ nhà Lê là cụ Hối dời về ở Lam Sơn thì chỉ sau 3 năm đã gây thành sản nghiệp lớn và từ đó trở đi họ Lê làm quân trưởng một phương, trong nhà lúc nào cũng có tới hơn 1.000 tôi tớ, trải các đời sau sinh ra Lê Lợi với “thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có nốt ruồi son, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, bước tới như hổ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường” (Đại Việt sử ký toàn thư). Theo truyền thuyết, nhà họ Lê được các thầy phong thủy cho biết một huyệt đất phát vương (ở động Chiêu Nghi). Theo cụ Tả Ao, đất phát vương phải là đất: Ngũ tinh cách tú triều nguyên / Kim, mộc, thủy, hỏa bốn bên loan hoàn / Thổ tinh kết huyệt trung ương / Ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời. Muốn hiểu các câu lục bát của cụ Tả Ao về đất phát vương nêu trên hẳn phải chú trọng, quan sát hình dáng cuộc đất (theo ngũ hành) gồm: hình tròn thuộc kim tinh (con Kim), hình doi thuộc mộc tinh (con Mộc), hình vuông thuộc thổ tinh (con Thổ), hình nhọn thuộc hỏa tinh (con Hỏa), hình sóng thuộc thủy tinh (con Thủy). Theo đó con Thổ phải ở vị trí chính giữa (kết huyệt trung ương) và các con Kim, Mộc, Hỏa, Thủy tuần tự vây quanh.

Thực hư về đất phát vương ở Chiêu Nghi thế nào chưa bàn tới. Chỉ căn cứ trên chính sử, thì năm Lê Lợi lên 33 tuổi (Mậu Tuất 1418) dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, trong khoảng 10 năm đuổi sạch quân Minh xâm lược, bắt sống tướng tá và 10 vạn viện binh của nhà Minh đều tha, không giết, đại định thiên hạ, lên ngôi hoàng đế ngày rằm tháng tư (Mậu Thân 1428) và lập tức xuống chiếu tha thuế cho dân: “các thứ thuế như tô ruộng, vàng bạc, đầm phá, bãi dâu trong cả nước đều tha (không thu thuế) trong 2 năm”. Và ban bố nhiều điều lợi ích. Đó là cách tích đức của bậc đế vương, vừa thuận ý trời (thuận thiên), vừa để phúc cho con cháu phù hợp hoàn toàn với lời giáo huấn của các thầy địa lý là “Tiên tích đức, hậu tầm long” – đại ý có nghĩa trước hết cần phải chứa đức, rồi sau hãy tìm long mạch… Phải chăng việc tích đức của Lê Lợi đã dẫn đến kết quả tốt đẹp là sự tồn tại của nhà Lê kéo dài từ thời Lê sơ với 10 đời, gồm 100 năm (1428 – 1527), đến thời Lê trung hưng với 16 đời, gồm 265 năm nữa (1533 – 1789) qua các triều Mạc, chúa Trịnh và chúa Nguyễn.

Đất ẩn náu của bậc đế vương 

Cuối đời Lê sơ, Mạc Đăng Dung ép vua Lê phải nhường ngôi cho mình, lập nên nhà Mạc từ năm 1527 đến 1592 thì sụp đổ. Trước khi sụp đổ, vua Mạc thứ năm là Mạc Mậu Hợp sai người đem lễ vật đến thăm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin hỏi về thế cuộc. Trạng Trình chỉ đáp một câu ngắn gọn: “Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể” – nghĩa là đất Cao Bằng tuy chật hẹp nhưng có thể giữ được về sau… Quả đúng như lời Trạng Trình nói, sau này khi nhà Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long và bị truy đuổi tứ tán, thì con cháu nhà Mạc chạy về cố thủ ở đất Cao Bằng và tồn tại thêm 96 năm nữa mới bị thôn tính, mất hẳn. Theo các nhà phong thủy, Cao Bằng là đất dung thân, ẩn náu của bậc đế vương. Vì thế, từ thời Đường Ý Tông (Trung Quốc) khi Cao Biền xâm lăng nước ta đã xây thành Đại La (ở Thăng Long – Hà Nội) và thành Nà Lữ (ở Cao Bằng). Về sau thành Nà Lữ được người Việt trấn giữ, trừ bùa yểm của Cao Biền. Đến nay di tích thành Nà Lữ vẫn còn ở làng Nà Lữ, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, có hình chữ nhật dài 800m, rộng 600m, xây bằng gạch và bằng đá tảng với 4 gò đất nổi mang tên: Long, Ly, Quy, Phượng. Gò Phượng nằm ở trung tâm. Khi nhà Mạc chạy về Cao Bằng đã chiếm Nà Lữ và xây thành đá trên núi để phòng ngự.

Đến thời hiện đại, Cao Bằng vẫn là mảnh đất “huyền thoại” về hai phương diện lịch sử và địa lý phong thủy. Xem thế từ Cao Biền, đến thời Lê - Mạc, cho tới nay đất Cao Bằng vẫn là nơi “tụ khí tàng phong” hết sức cát tường theo cách nhìn phong thủy.

Theo kienthucnet

Popular Posts